CHUYÊN ĐỀ : ÔN TẬP THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
( Đoàn thuyền đánh cá, Bếp lửa)
Trong nền văn học hiện đại VN nhiều tác phẩm có giá trị đặc sắc đã được lựa chọn và đưa vào chương trình học giáo dục phổ thông. Mỗi tác phẩm không chỉ chứa đựng giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc mà còn phản ánh lịch sử đất nước con người Việt Nam. Theo giai đoạn lịch sử thì hai bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận và Bếp lửa của Bằng Việt được sáng tác trong giai đoạn từ năm 1954 - 1964. Thời kì này được đánh giá là giai đoạn chuyển tiếp, giai đoạn bản lề giữa thơ ca thời kì chống Pháp và chống Mĩ. Thơ viết về đất nước mở ra nhiều hướng khai thác và có nhiều sáng tạo mới mẻ. Đây cũng là giai đoạn mà thơ ca có nhiều mùa gặt bội thu. Nhiều nhà thơ tìm được cảm hứng từ hiện thực và vẻ đẹp con người hăng say xây dựng cuộc sống mới. Những đổi thay tốt đẹp từng ngày trong cuộc sống mới cùng với những tưởng tượng về cuộc sống ngày mai tươi sáng, gần gũi đã tạo nên những tứ thơ đẹp giàu ước mơ và chân thực.
A. ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ ( Huy Cận)
I. Kiến thức cơ bản
1. Tác giả
- Huy Cận ( 1919 – 2005) tên thật là Cù Huy Cận, quê ở Hà Tĩnh, ông được xếp vào hàng những tên tuổi nổi tiếng nhất của nền thơ Việt Nam hiện đại. Trước cách mạng, ông là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới.
- Đặc điểm sáng tác: Thơ Huy Cận giàu cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ, có nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ, gợi những liên tưởng, tưởng tượng phong phú, độc đáo.
- Tác phẩm chính : Lửa thiêng ( 1940), Thời mỗi ngày lại sáng ( 1958), Đất nở hoa ( 1960), Mẹ và em ( 1987), Chiến trường gần với chiến trường xa (1973), Ngôi nhà giữa nắng ( 1978), Hạt lại gieo ( 1984), Chim làm ra gió ( 1989), Lời tâm nguyện cùng hai thế kỉ ( 1997)…
- Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2001, ông được bầu là Viện sĩ Viện hàn lâm Thơ Thế giới, Năm 2005, được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng.
2. Tác phẩm
a) Hoàn cảnh sáng tác
- Năm 1958, Huy Cận có chuyến công tác đi thực tế dài ngày về cùng mỏ Quảng Ninh ( đây là thời kì cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, Miền Bắc đang trong công cuộc dựng xây chủ nghĩa xã hội và làm hậu phương cho tiền tuyến Miền Nam).
- Từ chuyến đi thực tế này, hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới, mở một chặng đường mới trong thơ Huy Cận. Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá được ông Sáng tác trong chuyến đi này và đưa vào tập Trời mỗi ngày lại sáng ( 1958).
b) Thể thơ: 8 chữ
c) Bố cục: Bài thơ được bố cục theo hành trình một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá.
- Hai khổ đầu : Cảnh lên đường và tâm trạng náo nức của con người
- Bố khổ tiếp : Cảnh hoạt động của đoàn thuyền đánh cá giữa khung cảnh biển trời ban đêm.
- Khổ cuối: Cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh lên
3. Giá trị nội dung
- Bài thơ là một khúc tráng ca khỏe khoắn, hào hùng ngợi ca vẻ đẹp tráng lệ, kì vĩ thân thuộc của thiên nhiên và vẻ đẹp của người lao động mới trong công cuộc dựng xây chủ nghĩa xã hội. Từ đó, nhà thơ bộc lộ niềm vui, niềm tự hào, tin tưởng trước đất nước, con người và cuộc sống mới.
4. Giá trị nghệ thuât.
- Bằng bút pháp lãng mạn và trí tưởng tượng phong phú, nhà thơ sáng tạo được nhiều hình ảnh lạ, đẹp và giàu sức gợi: hình ảnh lộng lẫy của những loài cá ( dệt biển muôn luồng sáng, lấp lánh đuốc đen hồng, đuôi quẫy trăng vàng chóe, vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông); vẻ đẹp lung linh của trăng trên biển( Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long); hình ảnh kì vĩ của đoàn thuyền đánh cá ( Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời)…
- Thể thơ, cách gieo vần linh hoạt, nhịp điệuthơ đã mang đến giọng điệu thơ khỏe khoắn, sôi nổi; gợi cảm xúc bay bổng, lãng mạn. Cả bài thơ là khúc ca phơi phới niềm vui, hào hứng, mê say trong tình yêu thiên nhiên, yêu lao động.
II. Luyện tập
* Về các dạng câu hỏi và đề bài
Dạng 1: Câu hỏi đọc - hiểu
- Nội dung kiến thức: Dạng câu hỏi này thường xoay quanh các đơn vị kiến thức về
+ Tác giả, tác phẩm ( hoàn cảnh sáng tác, bố cục, mạch cảm xúc , ý nghĩa nhan đề ..gợi nhớ văn bản khác cùng chủ đề)
+ Từ vựng: biện pháp tu từ, giải nghĩa từ,…
+ Ngữ pháp: Các thành phần câu, kiểu câu…
+ Nội dung đoạn thơ
…
- Cách làm:
+ Bước 1: Đọc kĩ ngữ liệu cho
+ Bước 2: Đọc các câu hỏi , gạch chân dưới các từ trọng tâm
+ Bước 3: Trả lời trực tiếp vào câu hỏi. Câu trả lời đảm bảo: chính xác đầy đủ, ngắn gọn. Riêng câu hỏi về biện pháp tu từ cần đảm bảo đúng kĩ năng làm bài tập dạng đó.
Dạng 2: Viết đoạn văn nghị luận xã hội
Từ nội dung của đoạn trích hoặc văn bản, yêu cầu viết một đoạn văn nghị luận về chủ đề liên quan xoay quanh 2 dạng bài:
- Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống.
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý
Dạng 3: Viết bài văn nghị luận văn học
- Thường là:
+ Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
+ Nghị luận về một vấn đề trong đoạn thơ, bài thơ
- Khi gặp dạng bài này cần nắm được:
+ Yêu cầu của đề: Cảm nhận, suy nghĩ, phân tích
+ Vấn đề nghị luận:
/ Nghị luận về đoạn thơ hoặc bài thơ
/ Nghị luận về một phương diện, khía cạnh : tâm trạng nhân vật trữ tình, nét nghệ thuật đặc săc…
* Bài tập minh họa
Dạng 1: Câu hỏi Đọc - hiểu
Câu 1: Cho câu thơ “Mặt trời xuống biển như hòn lửa”
1. Chép tiếp những câu thơ còn lại để hoàn thiện khổ thơ? Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ? Nêu nội dung chính của khổ thơ em vừa chép?
2. Nêu bố cục của bài thơ Đoàn thuyền đánh cá? Với việc tạo ra bố cục như vậy, nhà thơ Huy Cận muốn gửi gắm điều gì?
3. Kể tên một văn bản khác cũng được sáng tác trong một chuyến đi thực tế, cho biết tên tác giả?
4. Chỉ ra và phân tích các biện pháp tu từ trong 2 câu thơ đầu của đoạn.
5. Biển nước ta ở phía Đông, ta chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển, tai sao Huy Cận lại viết “Mặt trời xuống biển”. Cách viết đó tưởng như vô lí nhưng lại có lí ở chỗ nào?
6. Cảm nhận về đoạn thơ trên bằng đoạn văn tổng – phân – hợp (khoảng 8 – 10 câu) sử dụng 1 câu chứa thành phần phụ chú, gạch chân.
Gợi ý
1. HS chép chính xác
- Hoàn cảnh sáng tác: 4/10/1958 – thời kì đầu miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhà thơ đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh.
- Nội dung: Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi và tâm trạng náo nức của người đi biển vào đêm thật kì vĩ, tráng lệ.
2. Bố cục bài thơ: theo hành trình một chuyến ra khơi của đoàn huyền đánh cá- theo trình tự thời gian:
+ Đoàn thuyền đánh cá ra khơi - khi hoàng hôn buông xuống.
+ Đoàn thuyền đánh cá trên biển- khi có trăng đẹp.
+ Đoàn thuyền đánh cá trở về- khi bình minh một ngày mới bắt đầu.
-> Hành trình của đoàn thuyền gắn với sự chuyển biến của thời gian: đoàn thuyền ra đi vũ trụ kết thúc một ngày; đoàn thuyền trở về khi vũ trụ bắt đầu một ngày mới.
=> Việc tạo ra bố cục như vậy, nhà thơ Huy Cận muốn ngợi ca hình ảnh con người lao động trong tư thế làm chủ thiên nhiên, vũ trụ. Con người hoạt động nhịp nhàng với vũ trụ. Qua đó, Huy Cận bộc lộ niềm tự hào, niềm tin tưởng vào cuộc sống nở hoa bắt đầu từ lao động.
3. Một văn bản khác cũng được sáng tác trong một chuyến đi thực tế:
Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành Long
4. Hai câu thơ sử dụng biện pháp tu từ:
+ So sánh: Hình ảnh “Mặt trời” với hình ảnh “hòn lửa”, giữa hai hình ảnh có sự tương đồng về màu sắc và hình khối. Cách so sánh làm nổi bật vẻ đẹp lộng lẫy và rực rỡ của cảnh biển lúc hoàng hôn.
+ Ẩn dụ “sóng đã cài then đêm sập cửa” tạo liên tưởng thật đẹp, vũ trụ là mái nhà, màn đêm là cánh cửa, những đợt sóng dài chuyển động là những chiếc then.
+ Nhân hóa: Sử dụng câu từ chỉ hành động của con người :”xuống, cài, sập” để chỉ hành động của thiên nhiên,làm cho cảnh thiên nhiên thật sinh động.
5. Biển nước ta ở phía Đông, ta chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển nhưng Huy Cận lại viết “Mặt trời xuống biển”. Cách viết đó tưởng như vô lí nhưng lại có lí ở chỗ, điểm nhìn của đang ở trên thuyền, ngoài khơi xa hoặc trên một hòn đảo xa đất liền: Ông nhìn về phía Tây sẽ thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển. Hình ảnh đó là thực nhưng cũng có thể là hình ảnh trong cảm quan nghệ thuật của nhà thơ.
6. Cảm nhận về đoạn thơ:
* Về hình thức: Đoan văn viết theo lối tổng- phân- hợp, khoảng 8-10 câu, có sử dụng một câu chứa thành phần phụ chú( gạch chân)
* Về nội dung: Gồm ý cơ bản sau:
Mở đoạn: Đoạn thơ trên được trích trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận, đã rất thành công trong việc thể hiện cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi và tâm trạng náo nức của người đi biển vào đêm thật kì vĩ, tráng lệ.
Thân đoạn:
- Vũ trụ như một ngôi nhà lớn với màn đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ với những lượn sóng hiền hòa chạy ngang trên biển như những chiếc then cài cửa.
- Hình ảnh ẩn dụ kết hợp với nhân hóa trong câu thơ “Sóng đã......cửa” tạo cho câu thơ một sức hấp dẫn riêng.
- Hình ảnh “Mặt trời” với hình ảnh “hòn lửa”, giữa hai hình ảnh có sự tương đồng về màu sắc và hình khối. Cách so sánh làm nổi bật vẻ đẹp lộng lẫy và rực rỡ của cảnh biển lúc hoàng hôn. Mặt trời – một hòn lửa khổng lồ, đang từ từ lặn xuống biển.
- Thiên nhiên vũ trụ đi vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người lại bắt đầu một ngày lao động mới. Hình ảnh “câu hát căng buồm” – Cánh buồm căng gió ra khơi là ẩn dụ cho tiếng hát ở con người có sức mạnh làm căng cánh buồn. Câu hát là niềm vui, là niềm say xưa hứng khởi của những người lao động yêu nghề, yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi,làm giàu cho Tổ Quốc.
Kết đoạn: Bằng việc sử dụng các biện, pháp nghệ thuật đặc sắc: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, Huy Cận đã vẽ lên một bức tranh tuyệt đẹp của cảnh biển về đêm và không khí rạo rực của người lao động, từ đoạn thơ cho em thêm yêu thiên nhiên, yêu biển, đặc biệt là tình yêu lao động.
Thành phần phụ chú: Mặt trời – một hòn lửa khổng lồ, đang từ từ lặn xuống biển
Câu 2:
1. Trong bài “Cành phong lan bể” có câu:
“Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về”
Bài “Đoàn thuyền đánh cá” cũng có câu thơ giàu hình ảnh tương tự. Hãy chép chính xác khổ thơ có câu thơ đó.
2. Con “cá song” và “ngọn đuốc” là hai sự vật khác nhau trong thực tế nhưng nhà thơ Huy Cận lại có sự liên tưởng hợp lí. Tại sao? Câu thơ của ông giúp người đọc hiểu thêm gì về thiên nhiên và tài quan sát của ông?
3. Dưới đây là câu chủ đề cho một đoạn văn trình bày cảm nhận về khổ thơ yêu cầu chép ở câu một: “Chỉ với bốn câu thơ, Huy Cận đã cho ta thấy một bức tranh kì thú về sự đẹp đẽ của biển cả quê hương”
Em hãy viết tiếp khoảng 8 đến 10 câu để hoàn chỉnh đoạn văn trên theo phương pháp lập luận diễn dịch (có câu ghép và có thành phần tình thái)
4. Trong bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” , hình ảnh thơ nào được lặp lại nhiều lần nhằm làm nổi bật tư tưởng của bài thơ. Việc lặp lại đó nhằm nói lên tư tưởng gì?. Bằng một đoạn văn hãy chỉ ra ý nghĩa?
Gợi ý
1. HS tự chép
2,
- Sự liên tưởng của nhà thơ dựa trên cơ chế ẩn dụ. Bằng sự quan sát tinh tế, nhà thơ đã nhận ra nét tương đồng giữa hình ảnh con cá song và ngọn đuốc. . Đó là cùng có ánh sáng hồng lấp lánh trong màn đêm đen. Cá song đêm xuống thường nổi lên mặt biển hàng đàn cho đến lúc rạng đông, cá song thường có màu sắc rất sặc sỡ. Trên nền da sẫm có nhiều đốm vằn đỏ hồng như những ngọn đuốc đỏ rực sáng lên trong trăng sao
- Câu thơ giúp người đọc hiểu biết thêm về vẻ đẹp ở các loài cá, vẻ đẹp của thiên nhiên biển khơi, đó là vẻ đẹp lạ kì. Trí tưởng tượng của nhà thơ quả là kì diệu, bút pháp lãng mạn của nhà thơ quả là bay bổng. Điều đó đã chấp cánh cho hiện thực trở nên kì ảo, làm giàu thêm cái đẹp vốn có trong tự nhiên.
3, Yêu cầu về hình thức: Đoạn văn diễn dịch có độ dài khoảng 8 - 10 câu, có sử dụng thành phần tình thái và một câu ghép.
- Yêu cầu về nội dung:
+ Câu chủ đề: Chỉ với bốn câu thơ, tác giả đã cho ta thấy một bức tranh kì thú về sự đẹp đẽ của biển cả quê hương .
+ Các câu khai triển:
/ Tôn lên vẻ đẹp rực rỡ, kì diệu của biển cả là sắc màu của những đuôi cá, vẩy cá, mắt cá với những màu sắc rực rỡ.
/ Những con cá song giống như ngọn đuốc đen hồng đang lao đi trong luồng nước dưới ánh trăng lấp lánh quả là hình ảnh ẩn dụ, độc đáo
/ “Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe “ là hình ảnh đẹp nhất. Ánh trăng in xuống mặt nước, những con cá quẫy đuôi nư quẫy ánh trăng tan ra, vàng chóe.( Câu ghép)
- Vẻ đẹp ở biển khơi càng tráng lệ, càng huyền ảo hơn bởi hình ảnh nhân hóa: “Đêm thở: Sao lùa nước Hạ Long”. “Đêm” được miêu tả như một sinh vật đại dương đang thở. Phải chăng tiếng thở của đêm là tiếng rì rào của sóng. Đây là một hình ảnh đảo ngược, một sáng tạo nghệ thuật của Huy Cận, khiến cảnh thiên nhiên thêm sinh động.
4. Gồm những ý cơ bản sau:
- Khi đoàn thuyền ra khơi, “ câu hát” được cất lên, gió thổi căng cánh buồm đưa thuyền rẽ sóng.Tiếng hát lúc này là niềm vui, niềm lạc quan là tâm trạng phán trấn, họ hát thực hiện những ước mơ hồn hậu, mộc mạc, biển lặng, sóng êm, đàn cá đan dệt vào lưới của họ để chuyến ra khơi thắng lợi.
- Khi đánh cá trên biển, trong đêm khuya, vũ trụ nghỉ ngơi, họ lại cất cao tiếng hát “ ta hát bài ca gọi cá vào”. Thể hiện khí thế lao động hào hứng, hăng say, là tình yêu lao động của những người dân chài. Với tiếng hát gọi cá vào lưới, hào cùng với nhịp trăng gõ vào mạn thuyền, thể hiện hài hòa, hoạt động nhịp nhàng của con người với thiên nhiên vũ trụ, công việc lao động vất vả trở thành công việc nhẹ nhàng, phơi phới giàu chất thơ.
- Câu hát khi thuyền trở về bến, là khúc ca khải hoàn, là niềm vui chiến thắng, là sự thắng lợi mĩ mãn của chuyến ra khơi.
* Đoạn văn tham khảo:
Bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận được coi là một khúc tráng ca làm nổi bật hình ảnh người lao động mới với niềm tin vào cuộc sống mới. Nhà thơ Huy Cận đã dùng hình ảnh “câu hát” lặp đi lặp lại nhiều lần theo hành trình chuyến ra khơi nhưng mỗi lần lại có nội dung tư tưởng và ý nghĩa khác. Khi đoàn thuyền ra khơi, “ câu hát” được cất lên, gió thổi căng cánh buồm đưa thuyền rẽ sóng.Tiếng hát lúc này là niềm vui, niềm lạc quan là tâm trạng phán trấn, họ hát thực hiện những ước mơ hồn hậu, mộc mạc, biển lặng, sóng êm, đàn cá đan dệt vào lưới của họ để chuyến ra khơi thắng lợi. Khi đánh cá trên biển, trong đêm khuya, vũ trụ nghỉ ngơi, họ lại cất cao tiếng hát “ ta hát bài ca gọi cá vào”. Thể hiện khí thế lao động hào hứng, hăng say, là tình yêu lao động của những người dân chài. Với tiếng hát gọi cá vào lưới, hào cùng với nhịp trăng gõ vào mạn thuyền, thể hiện hài hòa, hoạt động nhịp nhàng của con người với thiên nhiên vũ trụ, công việc lao động vất vả trở thành công việc nhẹ nhàng, phơi phới giàu chất thơ. Khi lao động họ còn cất cao tiếng hát, tri ân biển: “ Biển cho ta cá như lòng mẹ/ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào”. Sau một đêm thức trắng, lao động mệt mỏi giữa biển khơi mênh mông, thuyền nào cũng đầy ắp cá, câu hát lại một lần nữa cất lên cùng gió khơi, đưa thuyền trở về bến, là khúc ca khải hoàn, là niềm vui chiến thắng, là sự thắng lợi mĩ mãn của chuyến ra khơi. Như thế tiếng hát của người lao động lặp đi lặp lại một lần nữa khẳng định bài thơ là khúc ca lao động, là tiếng hát trong hồn thơ Huy Cận khi – trời mỗi ngày lại sáng.
Dạng 2: DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Đề 1: Viết đọan văn ngắn nêu suy nghĩ về tình yêu lao động
* Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý.
- Vấn đề nghị luận: Tình yêu lao động.
- Phạm vi dẫn chứng: Thực tế cuộc sống và trong văn học.
* Tìm ý
- Giải thích khái niệm: Lao động là gì?
- Nhận xét, đánh giá
- Mở rộng
- Bài học nhận thức
* Lập dàn ý
1. Mở đoạn: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần nghị luận, ý nghĩa của lao động và yêu thích lao động.
2. Thân đoạn:
a. Giải thích khái niệm:
- Lao động là hoạt động có ý thức của con người nhằm tạo ra những sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người.
- Yêu thích lao động là luôn mong muốn được làm việc hết mình để góp phần tạo ra các sản phẩm phục vụ con người: “lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo” (Mác-xim Groki).
Biểu hiện:
- Người yêu lao động trong văn học, thơ ca và cuộc sống thực tế (lấy dẫn chứng).
- Biểu hiện của những kẻ lười lao động là vừa thấy khó khăn mệt mỏi đã vội bỏ cuộc.
b. Ý nghĩa
- Lao động là biến mơ ước của con người thành hiện thực: Chỉ có lao động mới giúp con người thực hiện được mơ ước, đem lại niềm vui, thúc đẩy con người sáng tạo.
- Điều tốt đẹp trong cuộc sống không tự dưng mà có, không ai đem cho mà bản thân mỗi con người phải tự làm ra, tự lao động để có.
- Lao động là cơ sở để con người tồn tại, phát triển, đi từ tiến bộ này đến tiến bộ khác.
- Lao động tạo ra giá trị vật chất và tinh thần phục vụ cho đời sống con người.
- Lao động đem lại niềm vui, khơi dậy những sáng tạo, thúc đẩy cuộc sống, xã hội phát triển
- Lao động giúp con người làm chủ bản thân, thực hiện trách nhiệm, bổn phận với gia đình, đóng góp xây dựng xã hội.
- Lao động giúp con người thực sự sống tự do.
c. Mở rộng:
- Phê phán lối sống lười biếng, dựa dẫm, ăn sẵn, chống lại thái độ lười biếng lao động, ỷ lại, không sáng tạo,…
d. Bài học nhận thức
+ Mỗi người không ngừng phấn đấu, rèn luyện để trở thành người lao động chân chính, có ích, người lao động giỏi trong tương lai. Cần có quan điểm lao động mới, có thái độ lao động tự giác, có kĩ thuật, có kỉ luật và đạt năng suất cao.
+ Là học sinh: tích cực, tự giác học tập và lao động vừa sức, rèn luyện để tương lai rộng mở, để góp phần xây dựng quê hương
3. Kết đoạn:
Khẳng định tầm quan trọng của tình yêu lao động.
Đề 2 : Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam.
Bài làm:
* Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý.
- Vấn đề nghị luận: Ý thức bảo vệ chủ quyền.
- Phạm vi dẫn chứng: Thực tế cuộc sống và trong văn học.
* Tìm ý
- Giải thích khái niệm: Biển đảo Việt Nam là gì
- Nhận xét, đánh giá
- Mở rộng
- Bài học nhận thức
* Lập dàn ý
1. Mở đoạn
- Biển đảo Việt Nam là phần lãnh thổ của đất nước ta, qua nghìn năm nó luôn gắn bó với đời sống của cư dân nước Việt cả về vật chất lẫn tinh thần nên ta phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo.
2. Thân đoạn
- Biển đảo Việt Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của nhân dân. Điều này đã được chứng minh bằng lịch sử và các tài liệu khoa học được công bố thể hiện quá trình khai phá, chiếm hữu và thực thi chủ quyền liên tục.
- Ý nghĩa của vùng biển đảo:
+ Biển nước ta có nguồn tài nguyên tiềm tàng và nhiều loại khoáng sản như than, sắt, cát thuỷ tinh,…
+ Đây còn là nguồn cung cấp hải sản lớn cho ngư dân của nước ta suốt bao nhiều đời, là nơi nương tựa và không gian sinh tồn của dân tộc. “Chủ quyền” là có quyền lực độc lập đối với một khu địa lí nên “bảo vệ chủ quyền biển đảo” là quyền lãnh thổ hợp pháp của đất nước ta ở biển.
+ Vùng biển và ven biển của nước ta nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch có giá trị như những cánh cửa mở ra để chủ động hội nhập kinh tế thế giới. Biển Đông còn là vị trí đặc biệt quan trọng về quân sự, biên giới phía Đông nơi có đường tiếp cận, bàn đạp tấn công của các thế lực xâm lược. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, chúng ta vẫn chưa hoàn toàn nhận thức được giá trị và tầm quan trọng của biển.
- Tại sao cần có ý thức bảo vệ vùng biển đảo:
+ Những năm gần đây, Trung Quốc đã có nhiều hành động xâm phạm đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam, làm cho tình hình biển Đông ngày càng thêm phức tạp.
- Làm thế nào để bảo vệ:
+ Cho nên, để bảo vệ chủ quyền biển đảo thì các thanh niên trước hết phải xác định giữ biển đảo bằng tri thức về chủ quyền dân tộc. Muốn vậy, học sinh cần cố gắng trong học tập, tiếp thu tri thức, nắm vững kiến thức lịch sử nói chung và kiến thức về biển đảo nói riêng.
+ Ta phải nhận thức rõ về ý nghĩa thiêng liêng và giá trị to lớn mà cha ông ta đã đổ máu để xây dựng để từ đó tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo.
+ Bên cạnh việc tiếp thu kiến thức, học sinh cũng cần rèn luyện kĩ nâng và những phẩm chất tốt đẹp với định hướng của lòng yêu nước để phấn đấu trở thành một người sống có ích xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước
3. Kết đoạn
- Bảo vệ chủ quyền, biển đảo Việt Nam, bảo vệ độc lập tự do của đất nước luôn là nhiệm vụ cần thiết và quan trọng đối với tất cả chúng ta.
Dạng 3: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Đề 1 : Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.
* Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một bài thơ
- Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp tráng lệ, kì vĩ, thân thuộc của thiên nhiên và vẻ đẹp của người lao động mới trong công cuộc xây dựng xây chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc. Niềm vui, niềm tự hào trước đất nước, con người và cuộc sống.
- Phạm vi dẫn chứng: Trong bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá”.
* Tìm ý
- Khái quát chung
- Cảnh đoàn thuyền ra khơi lúc hoàng hôn
- Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển đêm
- Cảnh đoàn thuyền trở về lúc bình minh
- Nghệ thuật đặc sắc của bài thơ
* Lập dàn ý
1. Mở bài:Cần nêu được:
- Giới thiệu tác giả ( chú ý Phong cách sáng tác)
- Giới thiệu văn bản.
- Nêu vấn đề nghị luận.
Tham khảo mở bài:
- Huy cận là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của phong traò thơ mới và là một nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam.
- Thơ Huy Cận luôn vận động ở nhiều đối cực, giọng điệu mộc mạc, chân tình, lắng đọng.
- Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá rút từ tập Trời mỗi ngày lại sáng ( 1958) được Huy Cận sáng tác trong chuyến đi thực tế về vùng mỏ Quảng Ninh năm 1958.
- Bài thơ là một khúc tráng ca khỏe khoắn, hào hùng ngợi ca vẻ đẹp tráng lệ, kì vĩ, thân thuộc của thiên nhiên và vẻ đẹp của người lao động mới trong công cuộc xây dựng xây chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc. Từ đó, nhà thơ bộc lộ niềm vui, niềm tự hào trước đất nước, con người và cuộc sống.
2. Thân bài
a. Giới thiệu khái quát chung: Năm 1958 miền Bắc bắt đầu đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong không khí náo nức sôi nổi khẩn trương trên con đường làm ăn tập thể. Trong một chuyến đi thực tế ở vùng biển Hòn Gai-Cẩm Phả được tận mắt chứng kiến cuộc sống của những con người lao động trên cùng biển quê hương cảm xúc trào dâng mãnh liệt Huy Cận đã viết bài thơ này nhằm làm nổi bật hình ảnh con người lao động mới trên mặt trận lao động sản xuất.
b. Đoàn thuyền đánh cá ra khơi và tâm trạng náo nức của người đi biển ( Hai khổ đầu)
* Cảnh biển vào đêm : vừa rộng lớn lại vừa gần gũi với con người qua những liên tưởng độc đáo.
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa
- Chi tiết “ Mặt trời xuống biển” có thể gây ra sự thắc mắc của người đọc, vì bài thơ tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ở vùng biển miền Bắc, mà ở biển nước ta, trừ vùng tây nam thường chỉ thấy cảng mặt trời mọc trên biển chứ không thể thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển. Ở đây, hình ảnh mawjrt trời xuống biển là được nhìn từ trên con thuyền đang ra biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn, nhìn về phía tây qua một khoảng biển thì vẫn có thể thấy như mặt trời xuống biển.
- Phép so sánh: “ Mặt trời xuống biển như hòn lửa”. gợi cảnh tượng tráng lệ khi hoàng hôn rực lên lần cuối phía chân trời. Giữa bốn bề là nước, nhìn về phía tây có cảm giác mặt trời như một hòn than cháy hồng đang lặn xuống biển.
- Nhân hóa : “ sóng đã cài then, đêm sập cửa”, Huy Cận đã có một liên tưởng thật bất ngờ: vũ trụ bao la trở thành ngôi nhà lớn, màn đêm bao phủ là tấm cửa khổng lồ, những lượn sóng lăn qua lăn lại trên đại dương là những then cửa.
* Đoàn thuyển ra khơi và tâm trạng náo nức của con người:
- Hoàng hôn buông xuống, vũ trụ nghỉ ngơi, người lao động lại bắt đầu một chuyến ra khơi. Họ chủ động mở cửa vũ trụ, đi trong biển đêm như đi trong ngôi nhà thân thuộc của mình. Phó từ “ lại” khẳng định công việc đánh cá đêm đã trở thành nhịp sống thân quen.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
- Khí thế phấn chấn, hào hứng, ngập tràn niềm vui, niềm lạc quan của người lao động: “ Câu hát căng buồm cùng gió khơi”. Ba hình ảnh: câu hát, cánh buồm, gió khơi bỗng hòa vào nhau trong một câu thơ thể hiện trí tưởng tượng phong phú, lãng mạn. Người đánh cá năng buồm và cất lên câu hát, nhà thơ có cảm giác như chính câu hát ấy đã làm căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cụ thể cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi.
- Câu hát của người lao động còn mang theo một niềm mong môi tha thiết, vừa hiện thực vừa lãng mạn:
Hát rằng: Cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày diệt biển muôn luồng sáng.
Đến diệt lưới ta, đoàn cá ơi!
+ Ngắt nhịp linh hoạt : ba câu thơ dưới ngắt theo nhịp 4/3 cổ điển, câu mở đầu khổ thơ ngắt nhịp phá cách 2/5 tạo âm hưởng vừa trang trọng vừa khỏe khoắn.
+ Hình ảnh so sánh đẹp, độc đáo: từ dáng cá hình thoi, nhà thơ chợt liên tưởng đến biển như một tấm lụa lớn mà đàn cá là “ đoàn thoi” đang vun vút qua lại. Liên tưởng này lại kéo theo một liên tưởng khác, “ đoàn thoi” cá diệt nên tấm lưới của người dân chài. Tiếng hát thể hiện mong ước hồn hậu của ngư dân: mong ước biển lặng, sóng êm ngợi ca vẻ đẹp và sự giàu có của biển cả và cả mong ước chuyển đi chiến thắng trở về.
c. Đoàn thuyền đánh cá trên biển và khí thế của người lao động ( bốn khổ giữa).
- Con thuyền vốn nhỏ bé trước biển cả bao la, qua cái nhìn của nhà thơ chợt trở nên lớn lao, kì vĩ, hòa nhập với kích thước của vũ trụ:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
+Hình ảnh “ thuyền” được đặt trong mối quan hệ hài hòa với thiên nhiên, là trung tâm được vũ trụ, thiên nhienr quây quần trợ giúp: gió là bánh lái, gió lái thuyền đi: trăng là buồm, buồm đầy trăng sáng, thế hiện trí tưởng tượng bay bổng, lãng mạn
+ Động từ “lưới” diễn tả vận tốc rất lớn, sự điêu luyện của tay lái. Đoàn thuyền trinh phục đại dương. Đoàn thuyền chủ động “ Ra đậu dặm xa dò bụng biển”, lập thế trận “ lưới vây giăng”. Người lao động chủ động nắm bắt thiên nhiên bằng trí tuệ, lòng dũng cảm và cả sự quyết tâm làm giàu cho đất nước.
- Công việc lao động của người đánh cá vốn nặng nhọc đã được nhà thơ diễn tả thật hào hứng, khỏe khoắn và lãng mạn.
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
…
Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chìm cá nặng.
+ Khí thế lao động mỗi lúc một hăng say, hào hứng. Người lao động cất cao tiếng hát mê say lao động, ngợi ca biển cả với bao ân tình sâu nặng, thiết tha.
+ Thiên nhiên thơ mộng không chỉ là nơi diễn ra công việc lao động mà còn giúp sức lao động cùng con người: sao lùa nước Hạ Long, trăng gõ vào mạn thuyền… cùng người lao đông đuổi cá vào lưới. Hoạt động của con người nhịp nhàng cùng thiên nhiên vũ trụ.
+ Công việc lao động ngày càng khẩn trương. Người lao động biện lên đẹp nhất, khỏe khoắn nhất là giây phút kéo lưới, Thành quả lao động của họ mĩ mãn “ chùm cá nặng” mà mẹ biển đáp đền. Từng khoang thuyền đầy ắp cá “ vẩy bạc đuôi vàng” lấp lánh chào đón ánh bình minh.
- Cảnh biển đẹp lộng lẫy với hình ảnh đàn cá. Có khi đàn cá được miêu tả trong ánh trăng sao:
Cá thu biển Đông như đàn thoi
Đêm ngày diệt biển muôn luồng sáng
…
Cả song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe.
Có khi hiện lên trong ánh bình minh
Vẩy bạc đuôi vàng lóe dạng đông
…
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
Hình ảnh đàn cá trên biển có vẻ đẹp của tranh sơn mài lung linh, huyền ảo là biểu tượng cho vẻ đẹp kì thú, tráng kệ về biển cả quê hương. Ở đây, trí tưởng tượng đã nối dài, chắp cánh cho hiện thực trở nên kì ảo, làm giàu thêm cái đẹp vốn có trong tự nhiên; khiến công việc lao động nặng nhọc trở nên thi vị, đầy niềm vui khi bội thu những mẻ cá lớn.
d. Đoàn thuyền đánh cá trở về ( khổ cuối).
- Đoàn thuyền đánh cá trở về trong khung cảnh bình minh một ngày mới rự rỡ huy hoàng.
Câu hát căng buồm cùng gió khơi,
Đoàn thuyền chạy qua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biểu nhỏ màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
+ Khổ thơ cuối hô ứng với khổ thơ đầu. Đối xứng với cảnh : “ Mặt trời xuống biển như hòn lửa” là cảnh “ Mặt trời đội biển nhô màu mới”, biểu hiện nhịp tuần hoàn của vũ trụ.
+ Lặp lại dòng thơ “ Câu hát căng buồm cùng gió khơi” chủ đổi chữ “ với” thành chữ “ cùng”. Tiếng hát của người dân chài xuất hiện trong toàn bài thơ: từ lúc ra khơi, trong khi đánh cá cho đến lúc trở về. Chữ “ hát” xuất hiện bốn lần trong bài thơ, đem lại âm điệu tươi vui, khỏe khoắn của một khúc ca lao động đầy hào hứng, say mê.
Sau một đêm thức trắng giữa biển khơi, đoàn thuyền trở về trong khúc ca khải hoàn thắng lợi vẫn có thiên nhiên bầu bạn bên mình. Người lao động vẫn trong tư thế sáng ngang cùng vũ trụ, làm chủ thiên nhiên vũ trụ trong cách nói khoa trương giàu màu sắc lãng mạn: “ Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”. Hành trình về bến của đoàn thuyền hòa nhập với khí thế đi lên của mặt trời vũ trụ hứa hẹn cuộc sống tươi đẹp đang bắt đầu nở hoa từ trong loa động.
3. Kết bài
- Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh thơ đẹp tráng lệ về biển trời vũ trụ bằng sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú và độc đáo; âm hưởng khỏe khoắn, sôi nổi, hào hùng, lạc quan; cảm hứng hiện thực và lãng mạn hòa hợp đan cài.
- Theo hành trình chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá, bài thơ là một khúc tráng ca về lao động, ca ngợi con người lao động với tinh thần làm chủ và về thiên nhiên đất nước giàu đẹp. Từ đó, nhà thơ bộc lộ niềm vui, niềm tự hào, tin tưởng trước đất nước, con người và cuộc sống mới.
Đề 2: Cảm nhận của em về vẻ đẹp hình ảnh người lao động trên vùng biển Hạ Long qua bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.
* Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một bài thơ
- Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của người lao động mới trong công cuộc xây dựng xây chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc.
- Phạm vi dẫn chứng: Bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá”
* Tìm ý
- Khái quát chung
- Vẻ đẹp của người lao động trong cảnh đoàn thuyền ra khơi lúc hoàng hôn
- Vẻ đẹp của người lao động trong cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển đêm
- Vẻ đẹp của người lao động trong cảnh đoàn thuyền trở về lúc bình minh
- Nghệ thuật khắc họa hình ảnh người lao động đặc sắc.
* Lập dàn ý
I. Mở bài
- Huy cận là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của phong traò thơ mới và là một nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam.Thơ Huy Cận luôn vận động ở nhiều đối cực, giọng điệu mộc mạc, chân tình, lắng đọng
- Đoàn thuyền đánh cá là một trong những bài thơ hay của Huy Cận sáng tác 1958 sau chuyến đi thực tế ở vùng biển Quảng Ninh
- Xuyên suốt cảm xúc lãng mạn của bài thơ là hình ảnh con người lao động mới say sưa nhiệt tình hết mình hiện lên với vẻ đẹp tâm hồn khỏe khoắn tràn ngập niềm vui niềm say mê lao động sản xuất
II. Thân bài
1. Giới thiệu khái quát chung
Năm 1958 miền Bắc bắt đầu đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong không khí náo nức sôi nổi khẩn trương trên con đường làm ăn tập thể. Trong một chuyến đi thực tế ở vùng biển Hòn Gai-Cẩm Phả được tận mắt chứng kiến cuộc sống của những con người lao động trên cùng biển quê hương cảm xúc trào dâng mãnh liệt Huy Cận đã viết bài thơ này nhằm làm nổi bật hình ảnh con người lao động mới trên mặt trận lao động sản xuất.
2. Hai khổ thơ đầu tác giả tập trung khái quát hình ảnh người lao động trong khung cảnh ra khơi dầy ấn tượng:
« Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
« Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi ! »
- Câu thơ mở đầu là một hình ảnh so sánh độc đáo: « mặt trời » lúc hoàng hôn trên biển như « hòn lửa » đỏ rực chói sáng kết hợp với hình ảnh nhân hóa « sóng » như chiếc « then » cài khổng lồ mà cánh cửa chính là màn đêm buông xuống đóng sập ngôi nhà vũ trụ... Trong khung cảnh hoàng hôn ngắn ngủi thiên nhiên hiện ra với vẻ đẹp đủ sắc màu. Chỉ với hai câu thơ cũng đủ mở ra trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên lúc hoàng hôn đẹp tráng lệ, hùng vĩ lộng lẫy vô cùng. Hình ảnh thơ vừa gợi vẻ huyền bí thách thức con người lao động.
- Trái với quy luật của thiên nhiên, khi cả vũ trụ đi vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người lại bắt đầu một ngày lao động mới.
+ Họ ra khơi trong tiếng hát ngập tràn biển cả quê hương. Chữ « lại » cho thấy hoạt động thường nhật lặp đi lặp lại mỗi ngày chứ không phải là cá biệt đột suất, mặt khác chữ « lại » còn biểu thị ý nghĩa ngược chiều ngược lại so với hoạt động có trước.
àNếu hiểu lúc này trời biển đã nghỉ ngơi mà con người lại ra khơi, thì mới thấy hết tinh thần chủ động sáng tạo của người dân vùng biển.
+ Với bút pháp lãng mạn tác giả đã sáng tạo hình ảnh « câu hát căng buồm » thật giàu sức gợi. Đoàn thuyền ra khơi mang theo những điệu hò câu hát hào sảng khỏe khoắn phơi phới niềm vui phấn chấn tự hào của những người lao động, như tạo ra sức mạnh đẩy đoàn thuyền đi nhanh hơn.
+ Trong lời ca tiếng hát rộn ràng những con người lao động như say sưa với sự giàu có của nguồn tài nguyên trong lòng biển. Tiếng gọi « cá ơi » sao thân thương trìu mến tác giả như kéo thiên nhiên xích lại gần gũi thân thiện hơn với con người .
3. Ở những khổ thơ tiếp theo tác giả đã tái hiện thật sinh động cảnh đánh cá ngoài khơi của những con người lao động:
- Bằng biện pháp so sánh nhân hóa liệt kê nhà thơ đã dựng lên một bức tranh sinh động lung linh kì ảo của biển khơi :
« Cá nhụ cá chim cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở, sao lùa nước Hạ Long. »
+ Cùng với sự liên tưởng độc đáo kết hợp với cái nhìn hiện thực của biển khơi nhà thơ ngợi ca sự giàu có của biển. Vùng biển quê hương có biết bao nhiêu loài cá quý hiếm : cá nhụ, cá chim, cá thu, cá song, cá đé lấp lánh hơn với đủ sắc màu
+ Nhịp thở của biển khơi trong đêm bao la được ví với sao với nước. « Sao » và « nước » là hai sự vật vốn dĩ cách xa nhau hàng vạn dặm nhưng qua hồn thơ Huy Cận chúng trở nên gần gũi thân thiết biết bao
à Cảnh biển lúc này đẹp như một bức tranh sơn mài lộng lẫy lung linh tráng lệ. Phải là người có tình yêu tha thiết với biển cả quê hương thì mới có thể viết nên những vần thơ kì diệu như vậy.
- Trong cảnh vui say phấn khởi của người lao động nhà thơ gợi ra hình ảnh bất ngờ kì ảo tưởng như phi lí nhưng lại rất hợp lí :
« Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng. »
+Trước vẻ lung linh kì ảo của biển khơi hình ảnh con người lại càng trở nên đẹp đẽ hơn. Con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé nhưng qua bút pháp lãng mạn con thuyền trở nên kĩ vĩ khổng lồ hòa nhập với khung cảnh rộng lớn của thiên nhiên.
+« Thuyền ta » lấy gió làm bánh lái cánh buồm là ánh trăng treo lung linh, trên có mây cao dưới có biển bằng đoàn đang lướt nhanh để chinh phục thiên nhiên. àTrước không gian bao la của vũ trụ con người không còn có cảm giác nhỏ bé đơn côi mà họ đã thực sự làm chủ thiên nhiên đất trời, họ như bắt thiên nhiên phục vụ con người với tư thế hiên ngang hào sảng,nâng mình ngang tầm vũ trụ.
+ Đến ngư trường "dò bụng biển", ngư dân khẩn trương lao vào công việc "dàn đan thế trận lưới vây giăng". Nhịp thơ hối hả lôi cuốn, cuộc đánh cá thực sự là một trận đánh trên mặt trận chiến đấu mới trong lao động sản xuất. Mỗi thủy thủ là một "chiến sĩ". Con thuyền, mái chèo, lưới, ngư cụ khác đều trở thành vũ khí của họ.
+ Chữ "lướt" đặc tả đoàn thuyền ra khơi với vận tốc phi thường; thiên nhiên cùng góp sức với con người trên con đường lao động và khám phá.
- Biển Việt Nam giàu đẹp, người Việt Nam yêu biển yêu nghề, tình yêu ấy khiến họ hăng say nhiệt tình trong công việc, họ vừa làm vừa cất cao tiếng hát:
“Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Biển cho ta cá như lòng mẹ,
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.”
+Nhà thơ đã vẽ ra trước măt người đọc một khung cảnh đánh cá trên biển mới sinh động và thú vị làm sao. Âm thanh tiếng hát gọi cá vào hòa chung nhịp gõ thuyền làm cho sự lao động vất vả tan biến vào màn đêm.
+ Với giọng thơ ấm áp, chứa chan nghĩa tình, với niềm xúc động trào dâng Huy Cận so sánh biển với lòng mẹ để nói lên lòng tự hào biết ơn của dân chài đối với biển quê hương.
à Câu thơ là một khúc ân tình hòa trong bài tráng ca lao động hào hùng.
- Một đêm trôi qua nhanh chóng trên bầu trời sao đã thưa trăng đã mờ khiến hco nhịp điệu lao động càng trở nên khẩn trương để đi vào hồi kết:
“ Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông
Lưới xếp, buồm lên đón nắng hồng.”
+Người dân chài đang chạy đua với thời gian để về kịp chợ cá buổi sáng. Câu thơ thứ hai gợi vẻ đẹp người lao động đầy chất tạo hình: những cánh tay săn chắc của người lao động đang kéo xoăn tay chum cá nặng. Câu thơ như dựng lên một bức chân dung sống động về những người dân chài có sức khỏe phi thường và sức sống mãnh liệt.
+ “Cá nặng” là hình ảnh ẩn dụ gợi cảnh được mùa cá . Hai câu sau khổ thơ có sự kết hợp nhịp nhàng giữa lao động của con người với sự vận hành của vũ trụ. Chữ “lóe” rất hay vừa gợi ánh bình minh đang lên vừa gợi sự nhảy nhót của đàn cá trong mẻ lưới.
+ Âm hưởng đoạn thơ trong sáng khỏe khoắn làm cho bức tranh lao động trở nên hùng tráng và đầy chất thơ. Con người và thiên nhiên hài hòa trong không khí và ánh sáng của một ngày mới .
4. Khổ thơ kết khép lại bài thơ khép lại một chuyến ra khơi, hình người lao động trở về bến trong cảnh bình minh với biết bao điều thú vị :
“Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.”
Sau một đêm dài vật lộn với sóng gió của biển khơi đoàn thuyền đánh cá trở về trong âm vang của ngày mới.
+Vẫn câu hát căng buồm nhưng không phải là « cùng gió khơi » mà là « với gió khơi » nghĩa là hị đã hoàn toàn chinh phục được thiê nhiên và trở về trong tư thế của người chiến thắng với tinh thần sảng khoái, khỏe khắn và tự tin.
+ “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”, cách nói khoa trương nhấn mạnh vẻ đẹp kì vĩ của con người hòa quyện với con thuyền tạo nên chất thơ bay bổng lãng mạn. Khi mặt trời đội biển nhô lên thì thuyền cũng đã về bến từ lâu cá đã dỡ xuống phơi màu muôn dặm.
+Hình ảnh “mặt trời đội biển nhô màu mới”,vừa là hình ảnh thực vừa giàu ý nghĩa tượng trưng, giàu liên tưởng về một cuộc sống mới đang bắt đầu với những con người lao động thực sự làm chủ biển khơi làm chủ cuộc đời mình.
+Bài thơ đa khép lại nhưng ý thơ mở ra đến vô cùng qua hình ảnh “mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”. Những khoang thuyền đầy ắp cá lấp lánh ánh bình minh tượng trưng cho những thành quả lao động, thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã gặt hái được trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là hình ảnh ẩn dụ mà nhà thơ Huy Cận như hứa hẹn một tương lai tốt đẹp đang chờ đón những con người lao động mới ỏ vùng biển Quảng Ninh.
5. Tóm lại “Đoàn thuyền đánh cá” đã đem đến thành công xuất sắc cho tác giả.
- Đặc sắc nhất về nghệ thuật thể hiện ở việc sử dụng bút pháp lãng mạn với các biện pháp : đối lập, so sánh, nhân hóa phóng đại.
+ Cùng với đó là việc khắc họa những hình ảnh đẹp về mặt trời lúc hoàng hôn khi bình minh, hình ảnh biển cả và bầu trời trong đêm, hình ảnh ngư dân và đoàn thuyền đánh cá.
+ Bài thơ đã miêu tả sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người bằng kiểu ngôn ngũ thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu, gợi liên tưởng.
- Cảm hứng chủ đạo của bài thơ dồn vào hai từ “cá” và “hát” trở thành điệp khúc của một khúc ca đẹp ca ngợi biển cả lớn lao giàu đẹp ca ngợi nhiệt tình lao động vì sự giàu đẹp của đất nước của những con người lao động.
+ Nhà thơ đã chứng tỏ sự hiểu biết chính xác tinh tường bằng đôi mắt quan sát tinh tế, trí tưởng tượng bay bổng diệu kì.
+ Với “Đoàn thuyền đánh cá”, Huy Cận đã thực sự đem đến một luồng gió mới một hơi thở nồng nàn ấm áp về cuộc sống mới, về con người lao động mới góp phần làm đẹp hình ảnh con người lao động trong thơ ca cách mạng dân tộc.
III. Kết bài:
- Bài thơ đem đến cho người đọc niềm tự hào về một đất nước giàu có dồi dào tiềm năng hải sản tự hào vền những con người lao động mới biết sống hết mình vì công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa làm cho đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp văn minh.
- Năm tháng trôi đi nhưng mãi mãi còn lại khúc ca “Đoàn thuyền đánh cá” để khích lệ tình yêu và niềm say mê công việc cho tất cả mọi người.
Đề 3: Cảm nhận về vẻ đẹp của đoàn thuyền đánh cá qua khổ thơ đầu và khổ thơ cuối trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
...
Câu hát căng buồm với gió khơi.
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.”
(Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.139,140)
* Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ.
- Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của đoàn thuyền đánh cá.
- Phạm vi dẫn chứng: 2 đoạn thơ trên đề bài.
* Tìm ý
- Khái quát chung
- Vẻ đẹp của đoàn thuyền trong cảnh ra khơi lúc hoàng hôn
- Vẻ đẹp của đoàn thuyền trong cảnh trở về lúc bình minh
- Nghệ thuật khắc họa đặc sắc.
* Lập dàn ý
1. Mở Bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu đoạn trích: Đây là hai khổ thơ đầu miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi đầy hào hứng và khổ thơ cuối khi đoàn thuyền trở về.
2. Thân bài
a. Khổ 1: Cảnh ra khơi và tâm trạng náo nức của con người.
* Cảnh hoàng hôn trên biển.
– Cảnh mặt trời lặn được miêu tả thật độc đáo và ấn tượng:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
– Nghệ thuật so sánh nhân hóa cho thấy cảnh biển hoàng hôn vô cùng tráng lệ, hùng vĩ. Mặt trời được ví như một hòn lử khổng lồ đang từ từ lặn xuống. Trong hình ảnh liên tưởng này, vũ trụ như một ngôi nhà lớn, với đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ, những lượn sóng là then cửa. Chi tiết Mặt trời xuống biển có thể gây ra sự thắc mắc của người đọc vì bài thơ tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ở vùng biển miền Bắc, mà ở bờ biển nước ta, trừ vùng Tây Nam thường chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển chứ không thể thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển. Thực ra hình ảnh mặt trời xuống biển là được nhìn từ trên con thuyền đang ra biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn, nhìn về phía tây, qua một khoảng biển thì vẫn có thể thấy như là mặt trời xuống biển. Với sự quan sát tinh tế nhà thơ đã miêu tả rất thực chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêm.
* Khi thiên nhiên bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu làm việc
“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm với gió khơi”
– Đoàn thuyền chứ không phải chỉ con thuyền ra khơi đã tạo ra sự tấp nập trên biển. Chữ “Lại” vừa khẳng định nhịp điệu lao động của người dân chài đã đi vào ổn định, vừa thể hiện sự đối lập giữa sự nghỉ ngơi của đất trời và sự làm việc của con người.
– Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật từ sự gắn kết 3 sự vật và hiện tượng: Câu hát, cánh buồm và gió khơi. Người đánh cá căng buồm và cất câu hát lên nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó đã làm căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi.
– Nghệ thuật ẩn dụ trong hình ảnh thơ lãng mạn này đã góp phần thể hiện một hiện thực: Đó là niềm vui phơi phới, tinh thần lạc quan của người dân chài. Họ ra khơi trong tâm trạng đầy hứng khởi vì học tìm thấy niềm vui trong lao động, yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi làm giàu cho Tổ quốc.
Khổ thơ cuối: Cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh lên.
- Câu đầu tác giả lặp lại ở khổ thơ 1: “Câu hát căng buồm với gió khơi”
+ Có từ “với” là khác, có lẽ tác giả tránh sự lặp lại ở câu thơ trước => làm cho khổ thơ cuối giống như điệp khúc của một bài hát, tạo cảm giác tuần hoàn về thời gian, về công việc lao động; nhấn mạnh khí thế tâm trạng của những người dân. Đoàn thuyền ra đi
hào hứng sôi nổi, nay trở về cũng với tinh thần ấy rất khẩn trương. Câu hát đưa thuyền đi nay câu hát lại đưa thuyền về.
+ Bằng biện pháp khoa trương và hình ảnh nhân hóc Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời: cho thấy con người và vũ trụ chạy đua trong cuốc vận hành vô tận, con người đã mang tầm vóc lớn lao của thiên nhiên vũ trụ trong cuộc chạy đua này và con người đã chiến thắng.Có thể nói Huy Cận đã lấy tình yêu của mình đối với cuộc sống mới của nhân dân khám phá ra vẻ đẹp hùng vĩ. Thay vào không gian vũ trụ buồn hiu hắt của thơ ông trước cách mạng tháng Tám.
b. Khổ cuối: Bình minh trên biển
- Mở đầu bài thơ là cảnh hoàng hôn, kết thúc bài thơ là cảnh bình minh” Mặt trời đội biển nhô màu mới”. Ánh mặt trời sáng rực, từ từ nhô lên ở phía chân trời xa cảm giác như mặt trời đội biển. Câu thơ với ẩn dụ táo bạo cho thấy sự tuần hoàn của thời gian, của vũ trụ.
- Hình ảnh “mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” gợi nhiều liên tưởng như những mặt trời nhỏ bé đang tỏa rạng niềm vui trước thành quả lao động mà con người đã giành được sau một đêm lao động trên biển. => đó là cảnh tượng đẹp huy hoàng giữa bầu tròi và mặt biển, giữa thiên nhiên và thành quả lao động.
c. Đánh giá nghệ thuật đặc sắc của 2 khổ thơ:
- Bằng bút pháp lãng mạn và trí tưởng tượng phong phú , nhà thơ đã sáng tạo được nhiều hình ảnh lạ ,đẹp, và giàu sức gợi.
- Các biện pháp : đối lập, so sánh, nhân hóa phóng đại, cách gieo vần được vận dụng tài tình biến hóa linh hoạt.
- Cả hai khổ thơ tạo được âm hưởng vừa khỏe khoắn sôi nổi lại vừa phơi phới, bay bổng. Góp phần tạo nên âm hưởng ấy là các yếu tố lời thơ, nhịp điệu, vần. Cách gieo vần trong bài thơ biến hóa, linh hoạt, các vần trắc xen lẫn vần bằng, vần liền xen với vần cách. Các vần trắc tạo sức dội, sức mạnh, các vần bằng tạo sự vang xa, bay bổng, tạo nên những vần thơ khoáng đạt, kì vĩ, phơi phới niềm vui.
3. Kết bài
- Chỉ với khổ đầu và cuối bài“ Đoàn thuyền đánh cá”cũng đủ cho người đọc cảm nhận Huy Cận đã ca ngợi sự giàu đẹp của biển quê hương không khí làm ăn tập thể hăng hái, tin tưởng, người lao động làm chủ trong cuộc đời mới tràn đầy sức mạnh thể chất và tinh thần, ca ngợi sự hòa hợp tuyệt đẹp giữa con người với thiên nhiên.
- Đó là cái nhìn mới mẻ thiết tha tin yêu cuộc sống của nhà thơ. Lời thơ đem đến cho người đọc niềm tự hào về một đất nước giàu có dồi dào tiềm năng hải sản, tự hào về những con người lao động mới biết sống hết mình vì công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa làm cho đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp văn minh
ĐỀ 4: Viết bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của khổ thơ sau:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
( Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận)
* Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ.
- Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của khổ thơ ( nội dung, nghệ thuật)
- Phạm vi dẫn chứng: Đoạn thơ trên đề bài.
* Tìm ý
- Khái quát chung
- Vẻ đẹp của cảnh hoàng hôn
- Vẻ đẹp của người lao động
- Nghệ thuật khắc họa đặc sắc.
* Lập dàn ý
1. Mở bài :
- Giới thiệu đôi nét về tác giả và tác phẩm
- Giới thiệu khái quátnội dung và trích dẫn đoạn thơ.
2. Thân bài: Cảm nhận cảnh ra khơi và tâm trạng náo nức của con người trong bốn câu thơ
a. Khái quát chung
- Vị trí khổ thơ
- Nội dung khổ thơ
b. Cảnh hoàng hôn trên biển.
– Cảnh mặt trời lặn được miêu tả thật độc đáo và ấn tượng:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
– Nghệ thuật so sánh nhân hóa cho thấy cảnh biển hoàng hôn vô cùng tráng lệ, hùng vĩ. Mặt trời được ví như một hòn lử khổng lồ đang từ từ lặn xuống. Trong hình ảnh liên tưởng này, vũ trụ như một ngôi nhà lớn, với đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ, những lượn sóng là then cửa. Chi tiết Mặt trời xuống biển có thể gây ra sự thắc mắc của người đọc vì bài thơ tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ở vùng biển miền Bắc, mà ở bờ biển nước ta, trừ vùng Tây Nam thường chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển chứ không thể thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển. Thực ra hình ảnh mặt trời xuống biển là được nhìn từ trên con thuyền đang ra biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn, nhìn về phía tây, qua một khoảng biển thì vẫn có thể thấy như là mặt trời xuống biển. Với sự quan sát tinh tế nhà thơ đã miêu tả rất thực chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêm.
c. Khi thiên nhiên bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu làm việc
“ Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm với gió khơi”
– Đoàn thuyền chứ không phải chỉ con thuyền ra khơi đã tạo ra sự tấp nập trên biển. Chữ “Lại” vừa khẳng định nhịp điệu lao động của người dân chài đã đi vào ổn định, vừa thể hiện sự đối lập giữa sự nghỉ ngơi của đất trời và sự làm việc của con người.
– Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật từ sự gắn kết 3 sự vật và hiện tượng: Câu hát, cánh buồm và gió khơi. Người đánh cá căng buồm và cất câu hát lên nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó đã làm căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi.
– Nghệ thuật ẩn dụ trong hình ảnh thơ lãng mạn này đã góp phần thể hiện một hiện thực : Đó là niềm vui phơi phới, tinh thần lạc quan của người dân chài. Họ ra khơi trong tâm trạng đầy hứng khởi vì học tìm thấy niềm vui trong lao động, yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi làm giàu cho Tổ quốc.
d. Nghệ thuật đặc sắc
- Bằng bút pháp lãng mạn và trí tưởng tượng phong phú , nhà thơ đã sáng tạo được nhiều hình ảnh lạ ,đẹp, và giàu sức gợi.
- Các biện pháp : đối lập, so sánh, nhân hóa, cách gieo vần được vận dụng tài tình biến hóa linh hoạt.
- Khổ thơ tạo được âm hưởng vừa khỏe khoắn sôi nổi lại vừa phơi phới, bay bổng. Góp phần tạo nên âm hưởng ấy là các yếu tố lời thơ, nhịp điệu, vần.
3. Kết bài:
- Cảm nhận chung của em với 4 câu thơ và khẳng định tài hoa của tác giả Huy Cận.
Đề 5: Cảm nhận về vẻ đẹp của biển cả và niềm vui của người lao động trong đoạn thơ sau:
Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng,
Vảy bạc đuôi vàng loé rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
(Trích Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận,
Ngữ văn 9 Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam 2017)
* Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ.
- Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của biển cả và niềm vui của người lao động.
- Phạm vi dẫn chứng: Đoạn thơ trên đề bài.
* Tìm ý
- Khái quát chung
- Vẻ đẹp của biển cả
- Niềm vui của người lao động
- Nghệ thuật khắc họa đặc sắc.
* Lập dàn ý
1. Mở bài:
– Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam
– Giữa năm 1958, ông có chuyến đi dài ngày thực tế ở Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này ông viết Đoàn thuyền đánh cá.
– Hai khổ thơ cuối, tác giả khắc họa hình ảnh tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống.
2. Thân bài:
a. Giới thiệu khái quát
- Vị trí đoạn thơ
- Nội dung đoạn thơ
b. Cảnh khẩn trương lao động kết thúc hoạt động đánh cá
- Ra đi từ lúc hoàng hôn buông xuống, sóng cài then, đêm sập cửa, vũ trụ nghĩ ngơi, nay trở về bình minh đang lên rạng rỡ. Trước hết, đó là cảnh khẩn trương, hối hả chuẩn bị cho sự trở về:
"… Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng”
- Tất cả tinh thần tranh thủ, hối hả được diễn tả qua từ "kịp” và hình ảnh "kéo xoăn tay” một hình ảnh thơ khỏe khoắn gợi tả một công việc lao động hăng say, vất vả nhưng lấp lánh niềm vui bởi thành quả lao động mà họ đạt được "chùm cá nặng”. Xoa tay đứng nhìn đầy chặt khoang những cá nhụ, cá chim, cá đé… vẫy đuôi ánh sáng bình minh lấp lánh ánh bạc.
- Tinh thần khẩn trương, hối hả của người ngư dân lúc kéo lưới “sao mờ kéo lưới kịp trời sáng”
- Sự khỏe mạnh của người lao động qua hình ảnh ẩn dụ "ta kéo xoăn tay chùm cá nặng”
- Niềm vui tươi trong lao động qua những câu thơ tả cảnh đẹp, đầy sáng tạo.
c. Cảnh đoàn thuyền buồm căng gió trở về bến:
- Công việc đánh cá kết thúc, khi mà: lưới xếp, buồm lên đón nắng hồng” ấy là lúc đoàn thuyền trở về:
"Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”
– Chi tiết "đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” và "mặt trời đội biển nhô màu mới” là chi tiết giàu ý nghĩa. Hình ảnh ”mặt trời” là hình ảnh ẩn dụ cho một tương lai xán lạn. Và con thuyền chạy đua về tương lai là con thuyền của chủ nghĩa xã hội đang trên bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội hứa hẹn thành công.
d. Nghệ thuật khắc họa đặc sắc của đoạn thơ
- Giọng thơ
- Hình ảnh thơ
- Các biện pháp tu từ
….
3. Kết bài:
– Bài "Đoàn thuyền đánh cá” là một trong những bài thơ hay của phản ánh không khí lao động hăng say, náo nức của những người lao động đánh cá trên biển trong không khí của những ngày đất nước xây dựng sau giải phóng.
– Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng độc đáo và vận dụng nhiều biện pháp tu từ thành công
Đề 6: Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động trong đoạn thơ:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăn vàng chóe.
Đêm thở: sao lùa nức Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
(Trích “Đoàn thuyền đánh cá” - Huy Cận)
- Tìm hiểu đề:
+ Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ
+ Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động
+ Phạm vi dẫn chứng: Đoạn thơ trên đề bài
- Tìm ý:
+ Giới thiệu khái quát về vị trí, nội dung đoạn thơ
+ Vẻ đẹp của thiên nhiên
+ Vẻ đẹp của con người lao động
+ Nghệ thuật đặc sắc của đoạn thơ
* Lập dàn ý
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
+ Huy Cận: nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam
+ Giữa năm 1958, ông có chuyến đi dài ngày thực tế ở Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này ông viết Đoàn thuyền đánh cá.
- Giới thiệu và cảm nhận khái quát về đoạn thơ: khắc họa thành công vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động trên vùng biển quê hương.
2. Thân bài: Phân tích ba khổ thơ để thấy vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động.
* Khái quát chung:
+ Vị trí: Nằm ở giữa bài thơ
+ Nội dung: đoạn thơ miêu tả cảnh đánh cá của những ngư dân trong đêm trăng thơ mộng đã làm nổi bật vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động trong tư thế làm chủ công việc của mình.
* Triển khai luận điểm:
- Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên:
+ Bức tranh thiên nhiên mở ra với không gian bao la, trăng sao huyền ảo, gió lộng mây bay, nổi bật là hình ảnh con thuyền hùng dũng, băng băng lướt sóng.
+ Vẻ đẹp của cảnh biển Hạ Long trong đêm trăng rực rỡ, lộng lẫy như một bức tranh sơn mài.
=> Thiên nhiên rộng lớn, kì vĩ, nên thơ, giàu có, sống động, gần gũi với con người được sáng tạo bằng liên tưởng, tưởng tượng bay bổng của tác giả.
- Vẻ đẹp của con người lao động:
+ Có tư thế, tầm vóc lớn lao, lồng lộng giữa biển khơi, làm chủ thiên nhiên và công việc: ra thăm dò bụng biển, tìm luồng cá, dàn đan thế trận, bủa lưới vây giăng.
(Thuyền ta lái gió với buồm trăng/ Lướt giữa mây cao với biển bằng/ Ra đậu dặm xa dò bụng biển/ Dàn đan thế trận lưới vây giăng)
+ Lao động vất vả song những ngư dân luôn hào hứng, vui tươi.
(Ta hát bài ca gọi cá vào/ Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao)
+ Người lao động có tình yêu, lòng biết ơn và sự gắn bó biển cả.
(Biển cho ta cá như lòng mẹ/ Nuôi lớn đời ta tự thuở nào).
=> Hình ảnh những con người lao động đã trở thành trung tâm của bức tranh được nhà thơ khắc họa bằng bút pháp giàu chất tạo hình. Đó là con người được làm chủ cuộc đời trong xã hội mới.
* Đánh giá:
+ Âm hưởng, giọng điệu trong đoạn thơ sôi nổi, khỏe khoắn, nhịp thơ biến hóa linh hoạt, các thủ pháp khoa trương, phóng đại về hình ảnh con người, vũ trụ, thủ pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…đã sáng tạo được nhiều hình ảnh thơ đẹp.
+ Sự giao thoa giữa hai nguồn cảm hứng: cảm hứng về lao động và cảm hứng thiên nhiên vũ trụ đã tạo cho đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung những hình ảnh thiên nhiên rộng lớn, tráng lệ, độc đáo thể hiện niềm say sưa hào hứng và những ước mơ bay bổng của con người muốn hòa hợp với thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên.
3. Kết bài:
- Vẻ đẹp của con người trong sự hài hòa với thiên nhiên vũ trụ đã tạo thành vẻ đẹp vừa tráng lệ vừa gần gũi, tươi vui, làm nên bức tranh đẹp về cuộc sống mới, con người lao động mới ở miền Bắc thời kì xây dựng CNXH.
- Bài thơ thể hiện phong cách thơ Huy Cận sau cách mạng: tràn đầy tình yêu thiên nhiên và cuộc sống.
(Nếu HS phân tích từng khổ và khái quát về vẻ đẹp thiên nhiên và con người vẫn cho điểm tối đa)
III. Những lỗi học sinh thường mắc
- Về hình thức trình bày: không khoa học, viết ẩu, không đảm bảo hình thức đoạn văn và bài văn.
- Về nội dung:
+ Bài tập về biện pháp tu từ không tuân theo kĩ năng làm bài.
+ Khi viết đoạn văn, bài văn còn thiếu ý luận điểm, các câu, đoạn văn chưa liên kết chặt chẽ.
III. Bài tập vận dụng
- Viết hoàn chỉnh các đoạn văn, bài văn nghị luận ở dạng 2 và dạng 3.
Ở dạng 2 và dạng 3: Khi đã định hình được dàn ý xong và tiến hành viết bài, cần lưu ý:
1. Đối với đoạn văn nghị luận xã hội:
+ Về hình thức: Viết hoa chữ cái đầu tiên của đoạn, lùi vào đầu dòng. Tùy theo yêu cầu dung lượng mỗi đề, đảm bảo không thừa không thiếu.
+ Về nội dung:
/ Phần mở đoạn và kết đoạn, các em viết thật ngắn gọn
/ Phần thân đoạn: Các câu trong đoạn phải hướng vào chủ đề, và các câu được sắp xếp theo một trình tự lo gic, hợp lí.
2. Đối bài văn nghị luận văn học
Khi đã định hình được dàn ý xong và tiến hành viết bài, cần lưu ý:
- Mở bài: đảm bảo ngắn gọn, đủ ý ( độc đáo, hấp dẫn)
- Thân bài: Trình bày mỗi luận điểm ít nhất là một đoạn văn, nên có câu chứa luận điểm, giữa các luận điểm cần liên kết chặt chẽ với nhau.
- Kết bài: đảm bảo ngắn gọn, ấn tượng và tương xứng với mở bài về dung lượng
BẾP LỬA (Bằng Việt)
I, Kiến thức cơ bản:
1. Tác giả
- Bằng Việt, tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng – sinh năm 1941, quê ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây.
- Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 60 và thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
- Hiện nay ông là chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội.
- Phong cách sáng tác : Thơ Bằng Việt mang giọng điệu thủ thỉ, tâm tình ; ngôn ngữ điềm đạm ; cấu tứ mạch lạc và hệ thống thi ảnh đặc sắc.
2. Tác phẩm
a) Hoàn cảnh sáng tác:
- Bài thơ được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành luật ở nước ngoài.
- Bài thơ được đưa vào tập Hương cây – Bếp lửa (1968), tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ.
b) Mạch cảm xúc và bố cục:
* Mạch cảm xúc: Bài thơ là lời tâm sự của người cháu hiếu thảo ở phương xa gửi về người bà.
Bài thơ được mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỷ niệm tuổi thơ sống bên bà tám năm ròng, làm hiện lên hình ảnh bà với sự chăm sóc, lo toan, vât vả và tình yêu thương trìu mến dành cho đứa cháu. Từ những kỷ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sống giản dị mà cao quý của bà. Cuối cùng, người cháu muốn gửi niềm mong nhớ về với bà. Mạch cảm xúc bài thơ đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỷ niệm đến suy ngẫm.
* Bố cục: 4 phần.
- Khổ đầu: hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng cảm xúc hồi tưởng về bà.
- 4 khổ tiếp: những kỷ niệm ấu thơ, hình ảnh bà và bếp lửa.
- Khổ 6: những suy nghĩ của tác giả về bà và hình ảnh cuộc đời bà.
- Khổ cuối: nỗi nhớ của cháu về bà và bếp lửa.
c) Giá trị nội dung và nghệ thuật:
* Nội dung: qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” gợi lại những kỷ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà cũng là đối với gia đình quê hương đất nước.
* Nghệ thuật: bài thơ đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả tự sự và bình luận. Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm tựa khơi gợi một kỷ niệm, cảm xúc, suy nghĩ về bà và tình bà cháu.
III, LUYỆN TẬP
* Về các dạng câu hỏi và đề bài
Dạng 1: Câu hỏi đọc - hiểu
- Nội dung kiến thức: Dạng câu hỏi này thường xoay quanh các đơn vị kiến thức về
+ Tác giả, tác phẩm ( hoàn cảnh sáng tác, bố cục, mạch cảm xúc , ý nghĩa nhan đề ..gợi nhớ văn bản khác cùng chủ đề)
+ Từ vựng: biện pháp tu từ, giải nghĩa từ,…
+ Ngữ pháp: Các thành phần câu, kiểu câu…
+ Nội dung đoạn thơ
…
- Cách làm:
+ Bước 1: Đọc kĩ ngữ liệu cho
+ Bước 2: Đọc các câu hỏi , gạch chân dưới các từ trọng tâm
+ Bước 3: Trả lời trực tiếp vào câu hỏi. Câu trả lời đảm bảo: chính xác đầy đủ, ngắn gọn. Riêng câu hỏi về biện pháp tu từ cần đảm bảo đúng kĩ năng làm bài tập dạng đó.
Dạng 2: Viết đoạn văn nghị luận xã hội
Từ nội dung của đoạn trích hoặc văn bản, yêu cầu viết một đoạn văn nghị luận về chủ đề liên quan xoay quanh 2 dạng bài:
- Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống.
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý
Dạng 3: Viết bài văn nghị luận văn học
- Thường là:
+ Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
+ Nghị luận về một vấn đề trong đoạn thơ, bài thơ
- Khi gặp dạng bài này cần nắm được:
+ Yêu cầu của đề: Cảm nhận, suy nghĩ, phân tích
+ Vấn đề nghị luận:
/ Nghị luận về đoạn thơ hoặc bài thơ
/ Nghị luận về một phương diện, khía cạnh : tâm trạng nhân vật trữ tình, nét nghệ thuật đặc săc…
* Bài tập minh họa
Dạng 1: Câu hỏi Đọc- hiểu
Câu 1: Cho những câu thơ sau:
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
1. Những câu thơ trên trích trong bài thơ nào? Của tác giả nào? Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ? Nêu mạch cảm xúc của bài thơ?
2. Hình ảnh ngọn lửa trong câu thơ trên được một bạn học sinh hiểu là: Một hiện tượng tạo nên ánh sáng và hơi ấm do sự đốt cháy nhiên liệu, cách hiểu ấy có đúng không? Vì sao?
3. Chỉ ra từ láy trong dòng thơ đầu. Từ láy ấy giúp em hình dung gì về hình ảnh bếp lửa mà tác giả nhắc tới? Em hãy phân tích cái hay của những từ láy tượng hình trong ba câu thơ ấy?
4. Tình cảm gia đình hòa quyện trong tình yêu quê hương đất nước là một đề tài quen thuộc được thể hiện trong bài thơ. Hãy kể tên 2 bài thơ VN hiện đại trong chương trình Ngữ Văn 9 cũng viết về đề tài ấy và ghi rõ tên tác giả.
5. Viết đoạn văn quy nạp khoảng 13 đến 15 câu cảm nhận về hình ảnh người bà trong bài thơ “Bếp lửa” sử dụng câu cảm thán?
Gợi ý:
1. Bài thơ “Bếp lửa” của tác giả Bằng Việt. Bài thơ được sáng tác 1963, khi ấy tác giả đang là sinh viên ngành luật tại Liên Xô và mới bắt dầu đến với thơ. Mạch cảm xúc: Đi từ liên tưởng đến hiện tại, từ những kỉ niệm đến suy ngẫm
2.
- Cách hiểu của bạn học sinh không đúng.
- Vì đây là ngọn lửa trong lòng bà, ngọn lửa được thắp lên từ lòng yêu thương, từ niềm tin sự sống
3.
- “Chờn vờn” : Ánh sáng ngọn lửa bếp bập bùng, lúc to lúc nhỏ gợi ta nhớ đến hình ảnh bếp lửa bình dị quen thuộc của làng quê Việt Nam trước kia.
- Ba câu thơ đầu nổi bật lên với những từ tượng hình như “ chờn vờn, ấp iu”. Từ “ chờn vờn” gợi hình ảnh một bếp lửa vừa cụ thể, hữu hình, vừa vô hình khó nắm bắt. Không phải là “ bập bùng” hay” chập chờn”. Nếu là “ bập bùng” thì thực quá, lửa mạnh quá, ngọn lửa lúc cao, lúc thấp. Nếu “ chập chờn” thì ảo quá, ngọn lửa lúc to, lúc nhỏ khó nắm bắt. Chỉ với tư “chờn vờn” là từ láy tượng hình vừa gợi được cái dáng lửa thanh mảnh uốn lượn quyện làn sương sớm vừa gợi được sắc lửa hồng. Ngọn lửa nửa thực, nửa hư. Đó chính là ngọn lửa của hồi ức. Từ “ ấp iu” gợi sự chăm chút, nâng niu, giữ gìn bếp lửa của người bà với một bàn tay khéo léo, kiên nhẫn. Tóm lại, đó là một bếp lửa trong hoài niệm vừa gợi hình vừa biểu cảm. Một bếp lửa rực lên trong tình thương mến của bà và cháu.
4. Hai bài thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn lớp 9 viết về tình cảm gia đình hoà quyện với tình yêu quê hương đất nước là:
- Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm
- Nói với con của Y Phương.
5. Đoạn văn
a. Mở đoạn
Người bà trong bài thơ “Bếp lửa” của BV luôn dành cho cháu những tình cảm lớn lao, sâu sắc.
b. Thân đoạn:
- Bà là người che chở, bao bọc, dạy dỗ, chăm sóc cho cháu trong những năm tháng tuổi thơ “Bà dạy cháu làm ... khô nhọc” Bà vừa là thầy giáo, vừa là người cha, người mẹ để chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục cháu nên người
- Hình ảnh người bà tần tảo, chắt chiu, nhen nhóm lên ngọn lửa mỗi sớm mai. Nhen nhóm ý chí, niềm tin cho cháu: “Rồi sớm ... chứa niềm tin dai dẳng”
- Bà là người đầy nghị lực, vượt qua những biến cố lớn lao trong cuộc đời, trở thành chỗ dựa vững chắc cho cháu. Mặc dù giặc đốt nhà, cái đói đeo bám quanh năm nhưng bà vẫn dặn cháu: “Mày có viết ... bình yên”
- Xảy ra nhiều biến cố nhưng bà vẫn đầy nghị lực, là tấm gương cho sự chịu thương, chịu khó, bà là hậu phương vững chắc để ba mẹ đứa cháu yên tâm chiến đấu. Điều đó thể hiện bà còn là người có tình yêu nước sâu sắc.
c. Kết đoạn:
Chao ôi, bà là người phụ nữ Việt Nam với vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại, đầy yêu thương, với tấm lòng nhân hậu, giàu đức hi sinh, với một nghị lực sống phi thường!
Câu 2: Cho câu thơ “năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi”
1. Chép lại chính xác các câu tiếp theo để hoàn chỉnh khổ thơ?
2. Lời dặn dò của người bà đối với đứa cháu trogn đoạn thơ vi phạm phương châm hội thoại nào? Vì sao người bà phải vi phạm phương châm hội thoại đó
3. Viết những câu thơ được sử dụng theo lối trực tiếp? Lời dẫn trực tiếp là gì?
4. Nội dung chính của đoạn thơ?
5. Đoạn thơ có nói tới sự tàn phá của chiến tranh. Em hãy viết 1 đoạn văn diễn dịch từ theo đề tài vừa nêu. Sử dụng khởi ngữ?
Gợi ý:
1.HS chép chính xác đoạn thơ
2, Lời dạy của bà vi phạm phương châm về chất vì:
+) Người bà không muốn cho ba mẹ đứa cháu biết về hoàn cảnh thực tế của hai bà cháu ở nhà để họ yên tâm công tác đánh giặc.
+) Qua lời bà dặn không chỉ cho thấy sự đảm đang, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ mà còn thấy tình yêu nông nàn của người bà.
3, Là những câu thơ có dấu ngoặc kép và dấu gạch đầu dòng.
4, Nội dung chính:
Đoạn thơ nói về sự tàn phá của chiến tranh qua đó làm nổi bật tinh thần đoàn kết của xóm làng và sự vượt qua khó khăn, gian khổ, cam chịu đồng thời thể hiện lòng yêu nước sâu sắc của người bà.
5. Đoạn văn
a. Mở đoạn:
Chiến tranh đã để lại cho con người tổn hại về vật chất và tinh thần.
b. Thân đoạn:
* Thực trạng:
- Chiến tranh đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng con người, chia rẽ và làm tan nát bao nhiêu gia đình. Mẹ xa con, vợ xa chồng, sự đau đớn đến tột cùng khi mỗi người phải mất đi mỗi người phải mất đi những người thân yêu chỉ vì chiến tranh. Nỗi đau đớn tinh thần là vô cùng lớn
- Nó đã tàn phá rất nhiều nhà cửa, cầu cống.
- Và nó còn đẩy lùi sự phát triển của loài người, làm ảnh hưởng giống nòi cho biết bao thế hệ sau: Đất nước ta đã trải qua hàng ngàn năm chiến tranh nhưng tiêu biểu và mới đây nhất là cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ. Đặc biệt đế quốc Mĩ đã dải hàng ngàn, hàng vạn tấn bom cướp đi hàng triệu sinh mạng, dã man và tàn ác hơn chúng còn dải chất độc màu da cam không chỉ làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người lúc đó mà còn làm ảnh hưởng đến nòi giống không biết bao nhiêu thế hệ về sau.
* Biện pháp:
- Mỗi chúng ta luôn phê phán, lên án ngăn chặn chiến tranh, tuyên truyền rộng rãi cho mọi người biết hậu quả gây chiến tranh
- Bằng những hành động thiết thực như viết bài, vẽ tranh, biểu tình ... để lên án những kẻ gây chiến tranh
- Hãy yêu hòa bình vì hòa bình sẽ mang lại nhiều lợi ích cho con người và sự phát triển của xã hội. Hòa bình sẽ mang lại cuộc sống ấm no và hạnh phúc.
* Bài học:
Là học sinh, còn ngồi trên ghế nhà trường, mỗi chúng ta cần tích cực học tập, rèn luyện đạo đức trở thành những công dân có ích, xây dựng đất nước hòa bình, nông dân ấm no, hạnh phúc.
c. Kết đoạn:
Tóm lại, chiến tranh đã để lại những hậu quả khôn lường cho cuộc sống mỗi con người.
Câu 3:
Cho câu thơ sau:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa”
a. Hãy chép chính xác 7 câu thơ tiếp theo
b. Đoạn thơ vừa chép có trong tác phẩm nào? Của ai?
c. Từ “ nhóm” trong đoạn thơ có những nghĩa nào?
d. Phân tích tác dụng của phép tu từ điệp ngữ trong đoạn thơ trên.
Hướng dẫn
a. HS chép lại theo trí nhớ
b. Bếp lửa - BằngViệt
c. Nghĩa của từ “ nhóm”:
- Nghĩa gốc: Hoạt động làm cho lửa và chất đốt bén vào nhau và cháy lên
- Nghĩa chuyển: Khơi dậy, gợi lên trong tâm hồn con người những tình cảm tốt đẹp.
d.
- Đoạn thơ sử dụng rất thành công biện pháp tu từ điệp ngữ
- Từ “ nhóm” lặp đi lặp lại nhiều lần trong đoạn
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh, làm toả sáng hơn nét “kì lạ” và thiêng liêng bếp lửa.
+ Bếp lửa của tình bà đã nhóm lên trong lòng cháu bao điều thiêng liêng, kì lạ. Từ “nhóm” đứng đầu mỗi dòng thơ mang nhiều ý nghĩa: khơi dậy tình cảm nồng ấm, khơi dậy tình yêu thương, tình làng nghĩa xóm, quê hương, khơi dậy những kỉ niệm tuổi thơ.
- Tác giả: Bằng biện pháp tu từ trên tác giả ca ngợi người, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với bà.
+ Phép điệp ngữ khẳng định bà là cội nguồn của niềm vui, của ngọt bùi nồng đượm, là khởi nguồn của những tâm tình tuổi nhỏ.Đó là bếp lửa của lòng nhân ái, chia sẻ niềm vui chung.
C) DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Đề bài 1: Từ bài thơ “ Bếp lửa” và bằng những hiểu biết của em, viết đoạn văn nêu suy nghĩ về tình yêu quê hương, đất nước của thế hệ trẻ trong thời đại hiện nay?
a. Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý
- Vấn đề nghị luận: Tình yêu quê hương đất nước
- Phạm vi dẫn chứng: Hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học
- Hình thức trình bày: Đoạn văn
b. Tìm ý
- Giải thích khái niệm
- Nhận xét, đánh giá
- Mở rộng
- Bài học nhận thức
* Lập dàn ý
1. Mở đoạn
Trong sâu thẳm trái tim mỗi người, chắc hẳn đều có một nơi dành cho quê hương đất nước như một nhà thơ đã từng thốt lên:
2. Thân đoạn
a. Giải thích
- Thật khó để định nghĩa một cách rõ ràng về tình yêu quê hương đất nước. Nó chính là tình yêu, sự trân trọng, nâng niu, yêu mến và sẵn sàng hi sinh cho quê hương- nơi chôn rau cắt rốn của mỗi người, cho tổ quốc- lãnh thổ thiêng liêng mang hai tiếng Việt Nam. Đây là một tình cảm nhân văn, cao đẹp, luôn thường trực ở mỗi người dù già hay trẻ, dù gái hay trai.
b. Ý nghĩa
- Đã bao giờ bạn tự hỏi, cuộc sống hòa bình và đáng sống này ai đem lại cho bạn? Đó là những giọt mồ hôi của ông cha từ buổi khai phá, là biết bao nhiêu giọt máu của nhiều thế hệ đổ xuống để bảo vệ lãnh thổ bờ cõi. Nên ta yêu hơn cả từng con người, từng mảnh đất, từng nhành cây ngọn cỏ trên khắp đất nước.
- Nơi ta đã gắn bó từ ngày ấu thơ đến khi trưởng thành và mãi mãi về sau, nơi yêu thương và hạnh phúc luôn đong đầy thì tại sao ta lại không yêu, không quý, không trân trọng và nâng niu cho được?
- Tình yêu quê hương đất nước không phải thứ tình cảm to lớn hay xa xôi gì. Nó bắt nguồn từ tình yêu những điều nhỏ bé, bình dị nhất. Tình yêu nhà, yêu mỗi con sông quê hương, yêu những con người chân chất thật thà, yêu gia đình trở nên tình yêu đất nước. Khi bờ cõi đất nước đứng trước sự lâm nguy, những thế hệ thanh niên nhiệt tình đã sẵn sàng lên đường bảo vệ tổ quốc, những cô thanh niên xung phong sẵn sàng vào mặt trận. Đó là hình ảnh của chú bé Lượm, mẹ Tơm, mẹ Suốt, bà Bầm bà Ủ.... Trong thời bình thì tình yêu quê hương đất nước lại ở sự phấn đấu nỗ lực để cống hiến cho sự phát triển của đất nước. Tình yêu ấy không còn là những định nghĩa trừu tượng mà còn thể hiện bằng những hành động thiết thực. Đó là nỗi nhớ quê da diết mỗi khi xa nhà, luôn móng ngóng về quê hương và chờ đợi đến ngày được trở về. Khi đất nước phát triển, họ cùng góp một chút sức lực nhỏ để đầu tư cho sự phát triển của đất nước. Lòng yêu nước yêu quê hương của họ thật đáng quý biết bao.
- Tình yêu quê hương gắn liền với tình yêu tổ quốc. Đó là thứ tình cảm vừa giản dị, chân thành song lại thiêng liêng cao đẹp biết bao. Mỗi giai cấp, mỗi thế hệ, mỗi con người lại có những biểu hiện khác nhau để yêu nơi ta đã cất tiếng khóc chào đời, nới rộng mở cánh tay đón chào ta. Các nhà thơ yêu quê bằng những vần thơ ngọt ngào, tha thiết ngợi ca cảnh sắc quê hương đất nước. Anh kĩ sư yêu đất nước bằng những đêm thức trắng vẽ nên những bản công trình, đưa đất nước dần hội nhập cùng thế giới. Các bạn học sinh yêu quê hương mình bằng cách nỗ lực, chăm chỉ không ngừng học tập để đưa đất nước "sánh vai với các cường quốc trên thế giới".
c. Mở rộng
- Bên cạnh những hành động đẹp, những tấm gương sáng như vậy thì vẫn còn không ít người ngày càng xa lánh và rời bỏ quê hương. Thậm chí họ còn tìm cách chống phá nhà nước, đưa ra các luận điệu sai trái về chính quyền ta. Đôi khi, họ sống quá thực dụng và vụ lợi. Sẵn sàng lừa dối những người xung quanh mình, tàn phá thiên nhiên và hủy hoại môi trường. Nhiều kẻ bất nhân còn chà đạp lên quyền sống, bán rẻ lương tâm để hãm hại người khác một cách dã man. Những hành động như vậy đáng bị lên án và trừng trị.
d. Bài học nhận thức
- Yêu tiếng mẹ đẻ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt và lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Hãy là người yêu nước bằng một trái tim nóng và cái đầu lạnh.
3. Kết đoạn
Trong bối cảnh hiện đại, yêu quê hương đất nước còn gắn với việc bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa cổ truyền.
Đề bài 2: Từ ý nghĩa của bài thơ “Bếp lửa” cùng với những kiến thức xã hội em có, hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về vai trò của tình cảm gia đình đối với mỗi con người. .
a. Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý
- Vấn đề nghị luận: Vai trò của tình cảm gia đình
- Phạm vi dẫn chứng: Hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học
- Hình thức trình bày: Đoạn văn
b. Tìm ý
- Giải thích khái niệm
- Nhận xét, đánh giá
- Mở rộng
- Bài học nhận thức
* Lập dàn ý
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Gia đình luôn có vai trò quan trong trong cuộc đời mỗi con người.
2. Thân đoạn:
- Giải thích: Gia đình là khái niệm chỉ những người cùng chung sống dưới một mái nhà, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống, thường gồm có ông bà, cha mẹ, con cái và cháu chắt.
- Bàn luận: Vì sao gia đình có vai trò quan trọng đối với mỗi con người?
+ Gia đình là nơi ta sinh ra trong sự đón chờ của ông bà, cha mẹ, ang chị; nơi ta lớn lên mỗi ngày trong tình yêu thương, sự quan tâm, che chở.
+ Gia đình với nếp nghĩ, nếp sống riêng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới tính cách, suy nghĩ, ứng xử và sự phát triển của mỗi người. Không có sự chăm lo, giáo dục của gia đình là một điều kiện thiệt thòi lớn về tinh thần, cũng có thể dẫn tới sự thiếu hụt, lệch lạc trong phát triển nhân cách con người.
+ Gia đình là nơi chan chứa tình yêu thương, cho ta sức mạnh tinh thần quí giá để đứng vững giữa cuộc đời; cũng là nơi sẵn sàng đón lấy ta, cho ta trở về sau những thăng trầm, vấp ngã bên ngoài cuộc đời rộng lớn.
+ Ta có thể có nhiều bạn bè nhưng gia đình chỉ có một mà thôi.
( Lấy dẫn chứng để làm rõ)
- Đánh giá, mở rộng vấn đề:
+ Gia đình là tài sản quí giá của mỗi người, có vai trò và ý nghĩa to lớn trong cuộc sống mỗi người.
+ Phê phán những kẻ bất hiếu, coi nhẹ gia đình.
- Bài học:
+ Cần trân trọng , biết ơn, xây dựng, gìn giữ hạnh phúc gia đình.
+ Liên hệ bản thân với tư cách là một người con , người cháu trong gia đình.
3. Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề.
Đề bài 3: Viết đoạn văn khoảng 13- 15 câu nêu suy nghĩ về lòng hiếu thảo được gợi ra từ bài thơ?
* Tìm hiểu đề:
- Kiểu bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạp lý
- Vấn đề nghị luận: Lòng hiếu thảo
- Phạm vi dẫn chứng: Thực tế cuộc sống và trong văn học
* Tìm ý
- Giải thích khái niệm: Lòng hiếu thảo là gì
- Nhận xét, đánh giá
- Mở rộng
- Bài học nhận thức
* Dàn ý
1. Mở đoạn
Hiếu thảo với ông bà, cha mẹ vốn là truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta và là phẩm chất cần có trong mỗi con người.
2. Thân đoạn
Hiếu là hiếu nghĩa, biết ơn người sinh thành dưỡng dục mình, biết cung kính bề trên. Thảo là mở rộng tấm lòng của mình, là chia ngọt sẻ bùi. Tóm lại lòng hiếu thảo là sự biết ơn, tôn trọng và đáp đền cha mẹ, ông bà, người có công sinh thành hoặc dưỡng dục mình.
Trong thời kì phong kiến, lòng hiếu thảo đóng vai trò trung tâm của đạo đức Nho giáo. Lòng hiếu thảo được biểu hiện phong phú trong cuộc sống hằng ngày. Nó không chỉ được thể hiện trong thái độ tình cảm mà còn qua hành động, việc làm cụ thể. Người có lòng hiếu thảo là người luôn biết cung kính, lễ phép, biết vâng lời và làm cho cha mẹ, ông bà luôn được vui vẻ, thoải mái về tinh thần. Lúc cha mẹ khỏe mạnh, con cái hiếu thuận, vâng lời, lắng nghe dạy bảo. Lúc cha mẹ già yếu hết lòng chăm sóc phụng dưỡng. Khi cha mẹ qua đời phụng thờ chu đáo. Trong thực tế cuộc sống chúng ta đã có nhiều người con hiếu thảo trở thành tấm gương để người đời sau noi theo. “Hiếu tử truyện” có ghi lại những tấm gương hiếu thuận đáng để noi theo. Đó là một người con nhà nghèo, mùa đông, nằm ủ ấm chiếc giường rồi mời cha mẹ lên, mùa hè thức đêm để quạt cho cha mẹ ngủ. Đó là lão Lai Tử, tuổi đã già những vẫn diễn hài mua vui cho cha mẹ. Cũng có những người con như Nguyễn Trãi vì hiếu thảo mà dằn lòng, gạt dòng nước mắt, từ biệt cha già Nguyễn Phi Khanh để trở về nuôi giấc mộng như lời cha dặn “Hãy rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, như thế mới là đạo hiếu”. Còn bao nhiêu người con đã vâng lời, hiếu thuận với ông bà, cha mẹ trở thành người có ích làm rạng danh cha mẹ, tổ tiên.
Chúng ta sống hiếu thảo với ông bà, cha mẹ bởi ai cũng có cội nguồn, thân tộc. Ông bà cha mẹ là người đã sinh ra ta, nuôi dưỡng ta khôn lớn, dành cho ta những gì tốt đẹp nhất một cách vô điều kiện. Hơn nữa con cái sống hiếu thảo thì gia đình sẽ giữ được hòa khí, trên kính dưới nhường gia đình hòa thuận, yên vui, hạnh phúc là động lực để chúng ta học tập và làm việc. Lòng hiếu thảo đã gắn kết các thành viên trong gia đình. Sống hiếu thảo góp phần hoàn thiện vẻ đẹp nhân cách của mỗi con người. Người sống hiếu thảo luôn được người khác trân trọng, yêu mến và dễ thành công trong cuộc sống bởi giá trị của con người không phải được nhìn nhận bằng sự giàu sang, quyền quý mà nó được thể hiện bằng nhiều yếu tố tinh thần đep đẽ trong đó nền tảng là chữ “hiếu”.
Mặc dù vậy không phải ai cũng thấm thía ý nghĩa của chữ Hiếu trong đạo làm người. Họ sống lỗi đạo, bất hiếu, vô lễ, thậm chí bỏ bê hoặc hành hạ đánh đập cha mẹ, ông bà. Những “con sâu làm rầu nồi canh” ấy là biểu hiện của lối sống vô ơn, nhân cách kém cỏi và bị xã hội lên án mạnh mẽ.
Là học sinh - thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước phải lấy chữ hiếu làm đầu, kính trọng lễ phép, lắng nghe ông bà, cha mẹ dạy bảo, phấn đấu trong học tập và rèn luyện, trở thành người tốt để ông bà, cha mẹ được vui lòng. Đó là cách để đền đáp phần nào công ơn của người đi trước.
3. Kết đoạn
Lòng hiếu thảo thể hiện lối sống trọng tình nghĩa, là nét đẹp cao quý của văn hóa Việt Nam. Vì thế mỗi chúng ta cần nhớ làm lòng “Tội lớn nhất của đời người là bất hiếu”.
Đề bài 4: Viết đoạn văn khoảng 200 từ suy nghĩ về ý nghĩa của những kí ức tuổi thơ trong cuộc đời mỗi con người.
* Tìm hiểu đề:
- Kiểu bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
- Vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của những kí ức tuổi thơ
- Phạm vi dẫn chứng: Thực tế cuộc sống và trong văn học
* Tìm ý
- Giải thích khái niệm
- Nhận xét, đánh giá
- Mở rộng
- Bài học nhận thức
*Lập dàn ý:
I. Mở bài:
Từ bài thơ đầy xúc động – “Bếp lửa” của nhà thơ Bằng Việt, thêm một lần chúng ta nhận ra ý nghĩa quan trọng của những kí ức tuổi thơ trong cuộc đời mỗi con người.
II. Thân bài:
1. Giải thích:
Kí ức tuổi thơ là gì?
Kí ức là những hình ảnh, sự việc đã qua được trí nhớ ghi lại. Vậy kí ức tuổi thơ được hiểu là những kỉ niệm sâu sắc mà ta nhớ mãi về thuở thiếu thời, khi ta còn nhỏ.
2. Bàn về vai trò của kí ức tuổi thơ:
Tuổi thơ là nền tảng quyết định tương lai của mỗi con người do vậy kí ức cũng góp phần quan trọng vào việc xây dựng tương lai của chúng ta bởi nó chính là một phần không thể thiếu của nền tảng đầu tiên trong cuộc đời.
Phần lớn kí ức tuổi thơ của mỗi người thường là tươi đẹp. Bởi tuổi thơ như hạt sương tinh khôi trong nắng mai. Đó là tuổi hồn nhiên chẳng có so đo tính đếm lợi ích cá nhân, chẳng có được mất, sẵn sàng hết mình giúp bè bạn. Phải chăng vì thế mà khi chúng ta lớn lên ai cũng mong ước có cho mình một chiếc vé về tuổi thơ. Hơn nữa, tuổi thơ là giai đoạn đứa trẻ được gia đình, nhà trường và xã hội chăm lo, bao bọc trong tình yêu thương. Chúng không vướng bận gì cả, chúng chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là cố gắng trong học tập, rèn luyện. Vì thế nhân cách và phẩm chất của mỗi đứa trẻ khi trưởng thành phản ánh môi trường mà chúng ta sinh ra và lớn lên.
Kí ức tuổi thơ là một phần đẹp đẽ nhất trong cuộc đời mỗi con người. Dù vui hay buồn thì mỗi lần nhớ về nó, mọi người đều có một cảm xúc thật khó tả. Nó khiến ta thêm gắn bó với gia đình, quê hương, nguồn cội. Nó là một phần điểm tựa tinh thần tạo ra sức mạnh để ta vượt qua những khó khăn, vấp ngã trên đường đời muôn nẻo.
3. Mở rộng:
Như đã nói kí ức tuổi thơ có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của mỗi người khi lớn lên. Một tuổi thơ hạnh phúc hay không là nền tảng quyết định con người chúng ta sẽ trở thành. Vậy mà đâu đó trong cuộc sống này vẫn có những đứa trẻ phải lớn lên với những đứa trẻ phải lớn lên với những kí ức không hề đẹp đẽ. Chúng có thể vượt qua được để một sống một cuộc đời có ích hoặc không.
4. Bài học nhận thức
- Mỗi người cần trân trọng kí ức tuổi thơ
- Là học sinh, sống trong thời thơ ấu, mỗi chúng ta cần cố gắng học tập, rèn luyện để tạo ra những kí ức tốt đẹp.
III. Kết bài:
- Mong sao mọi trẻ em trên thế giới đều có một tuổi thơ hạnh phúc.
DẠNG 3: VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Đề 1: Cảm nhận ủa em về tình bà cháu qua bài thơ “ Bếp lửa” của Bằng Việt.
* Tìm hiểu đề:
- Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ
- Vấn đề nghị luận: Tình bà cháu
- Phạm vi dẫn chứng: Bài thơ “ Bếp lửa”
* Tìm ý
- Giới thiệu khái quát chung
- Tình bà cháu qua hình ảnh bếp lửa khơi nguồn dòng hổi tưởng
- Tình bà cháu qua những kỉ niệm tuổi thơ
- Tình bà cháu qua những suy ngẫm sâu sắc về bà và bếp lửa
- Tình bà cháu qua nỗi nhớ của cháu ở nơi xa
- Nghệ thuật đặc sắc
* Lập dàn ý:
I. Mở bài
- Bằng Việt thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ Bằng Việt trong trẻo mượt mà, cảm xúc tinh tế, giọng điệu tâm tình giàu suy tư triết lí.
- Bếp lửa là một trong những bài thơ đặc sắc của Bằng Việt được sáng tác năm 1963 khi tác giả đang học ngành luật ở Ucraina ( Liên Xô).
- Bài thơ ca ngợi tình cảm bà cháu thiêng liêng sâu sắc, thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà.
II. Thân bài
Khái quát chung…
Luận điểm 1: Trước hết tình bà cháu trong bài thơ được khơi nguồn từ hình ảnh bếp lửa:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Trong đoạn chỉ có ba câu nhưng cụm từ “ một bếp lửa” được nhắc lại tới hai lần trở thành điệp khúc của đoạn thơ, cũng là điệp khúc tâm trạng của người cháu nơi phương xa. Người cháu nhớ về quê hương là nhớ về bếp lửa nơi đó có người bà yêu thương. Hình ảnh “ bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh quá đỗi quen thuộc trong mỗi gia đình Việt Nam từ bao đời nay. Hình ảnh “ “ một bếp lửa ấp iu nồng đượm” không chỉ diễn tả chính xác với công việc nhóm lửa mà còn gợi ra đôi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo che chắn nâng niu và tấm lòng chi chút của người bà. Từ đó hình ảnh người bà tràn ngập vào trong lòng cháu với bao tình cảm nhớ thương: “ Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”.
Luận điểm 2: Tình bà cháu trong bài thơ còn được thể hiện trong dòng chảy dạt dào của kí ức về những năm tháng tuổi thơ được sống bên bà. Trước hết là kỉ niệm sâu sắc không thể nào quên về bếp lửa và người bà hiện lên trong tuổi ấu thơ có nhiều gian khổ thiếu thốn nhọc nhằn:
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”
Đoạn thơ gợi lại một tuổi thơ nhọc nhằn gian khó. Hình ảnh những năm tháng chiến tranh chống Pháp gian khổ được hiện về qua thành ngữ “ đói mòn đói mỏi”. Cái đói kéo dài làm mệt mỏi, kiệt sức qua hình ảnh con ngựa gầy rạc và người bố đi đánh xe chắc cũng gầy khô. Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945. Một tuổi thơ bần hàn cay cực thiếu thốn trăm bề. Cháu ở nhà cùng bà, cha mẹ lo đi chật vật kiếm ăn, duy trì sự sống và để tiếp tục chiến đấu. Ngay cả lúc nhóm bếp cháu vẫn ngồi trong lòng bà. Dường như mùi khói bếp đã trở nên quen thuộc đối với cháu. . Mùi khói từ tuổi thơ ấu vẫn còn nguyên vẹn trong kí ức chẳng thể phai mờ. Mùi khói từ tuổi thơ ấu vẫn còn nguyên vẹn trong kí ức chẳng thể phai mờ đến tận bây giờ.
Không những vậy tình bà cháu còn được thể hiện vô cùng cảm động và yêu thương trong suốt 8 năm thời thơ ấu. Đó chính là những ngày cơ cực nhất ở Huế, những ngày bố mẹ đều đi công tác xa bận không về, chỉ còn lại hai bà cháu, cháu bên bà và bên bếp lửa:
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Nếu như ở khổ thơ trước hình ảnh thơ có sức ám ảnh nhất đến người đọc chính là mùi khói thì ở khổ thơ này hình ảnh có ý nghĩa lan tỏa trong tâm hồn người cháu chính là tiếng chim tu hú. Đó là âm thanh quen thuộc của những cánh đồng quê mỗi độ vào hè. Âm thanh trong trẻo, thiết tha khắc khoải của tuổi thơ như vọng về hiện tại khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong: nhớ bà, nhớ quê da diết.
Đặc biệt người cháu nhớ về những kỉ niệm bên bà được bà dạy bảo chăm chút:
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Trong kí ức của người cháu, những câu chuyện bà kể vẫn còn nguyên vẹn. Tuổi thơ của cháu được bà dạy bảo biết bao điều . bà làm nhiệm vụ của một người bà, người cha, người mẹ chăm lo cho cháu từng bữa ăn giấc ngủ dạy cháu học hành. Mỗi lần nhóm lửa là mỗi lần bà khó nhọc, bao nhiêu năm tháng là bấy nhiêu vất vả đắng cay. Bà đúng là người phụ nữ chịu thương chịu khó hết lòng chăm lo cho cháu lên người. Bố mẹ đi xa nhưng cháu vẫn thật hạnh phúc khi được sống trong vòng tay yêu thương của bà.
Trong những năm tháng chiến tranh tình bà cháu vẫn vững vàng vượt lên đau thương và đổ nát:
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đàn bà dựng lại túp lều tranh
“Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”.
Nhà bị giặc đốt, được sự đỡ đần của hàng xóm, bà dựng lại được túo lều tranh để ở. Đau khổ thế nào bà vẫn cứng rắn dắt cháu vượt qua. Lời căn dặn của bà với cháu thật nôm na giản dị nhưng chất chứa bao ân tình. Gian khổ thiếu thốn bao nỗi nhớ thương con, bà phải nén vào trong lòng để con trai yên tâm công tác nơi tiền tuyến. bà quả là người phụ nữ nhân hậu giàu tình yêu thương và đức hi sinh. Như thế hình ảnh bà không chỉ là người bà của riêng cháu mà còn là một biểu tượng rõ nét cho những người phụ nữ Việt Nam yêu nước chịu thương chịu khó.
Từ hình ảnh bếp lửa, bài thơ đã đi đến hình ảnh ngọn lửa:
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
“Lửa rơm thì nấu chín thức ăn, sưởi ấm chỗ ở còn “ngọn lửa lòng bà” thì soi sáng trí tuệ, sưởi ấm tâm hồn. Tới đây hình ảnh “ngọn lửa” mang ý nghĩa khái quát hơn, rộng lớn hơn. Đó là “ngọn lửa” của tình thương “luôn ủ sẵn”, ngọn lửa của niềm tin “dai dẳng”. Hình ảnh ngọn lửa là những kỉ niệm ấm lòng, niềm tin thiêng liêng, kì diệu nâng bước cháu trên suốt chặng đường dài. Vững lòng tin vào tương lai cuộc kháng chiến của dân tộc, bà kiên trì nhóm lửa và giữ cho ngọn lửa tình yêu , ngọn lửa niềm tin luốn ấm nóng, tỏa sáng. Cho nên ngọn lửa là sức sống, lòng yêu thương, niềm tin mà bà truyền cho cháu.Như thế bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là truyền lửa - Ngọn lửa của sự sống niềm tin cho cháu và các thế hệ nối tiếp.
3. Luận điểm 3: Từ những hoài niệm về tuổi thơ và bà , người cháu suy ngẫm về cuộc đời, về những lẽ sống của bà. Và tình bà cháu lại càng ấm áp hơn bên bếp lửa:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Người cháu cảm nhận được cuộc đời bà chịu lận đận trải qua bao vất vả đắng cay, thức khuya dậy sớm vì bát cơm manh áo cho con cháu trong gia đình. Bà đã nhóm bếp lửa trong suốt cả cuộc đời. Không chỉ nhóm bằng đôi bàn tay kiên nhẫn, bằng những nhiên liệu bên ngoài mà còn bằng tấm lòng đôn hậu ấp iu đối với cháu. Điệp từ nhóm nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong đoạn thơ có tác dụng nhấn mạnh tấm lòng yêu thương của bà dành cho cháu. Bà nuôi cháu bằng vị ngọt bùi của khoai sắn, hương thơm của nồi xôi gạo mới. Bà còn nhen nhóm nuôi dưỡng trong lòng cháu bao ước mơ hoài bão. Nghĩ về bà, nghĩ về bếp lửa, cảm xúc của người cháu dồn nén trào dâng: “ Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa”.Từ cảm thán “ôi” tạo nên giọng điệu thiết tha thể hiện niềm xúc động chân thành và nồng hậu.Bếp lửa của bà kì lạ vì sức sống mãnh liệt bền bỉ. Nó luôn cháy lên và tỏa sáng bất chấp mọi hoàn cảnh tối tăm, lầm than hay khốc liệt. Bếp lửa của bà thiêng liêng bởi đó là nơi bà nhóm dậy sự sống, niềm vui, nơi ấp ủ tình yêu thương nồng đượm, nơi thổi bùng lên những khát vọng đẹp đẽ trong tâm hồn người cháu. Bếp lửa và hình ảnh người bà thân yêu đã trở thành một mảnh tâm hồn một phần kí ức không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cháu thì chẳng kì lạ và thiêng liêng lắm sao!
Luận điểm 4: Tình bà cháu còn được thể hiện ở khổ cuối bài thơ trong nỗi nhớ thiết tha của cháu nơi phương trời xa cách:
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa
Đứa cháu năm xưa nay đã trưởng thành đang sống lại nước Ucrai-na ( Liên bang Nga), đó là một đất nước hiện đại tiên tiến với những bếp điện và bếp ga, nhưng cháu vẫn không thể nguôi quên. Ngọn lửa ấy đã trở thành kỉ niệm ấm lòng, là niềm tin thiêng liêng kì diệu nâng bước người cháu suôt chặng đường dài. Dù xa xôi người cháu vẫn đau đáu hướng về bà, hướng về quê hương với nỗi nhớ da diết trào. Câu hỏi tu từ cuối dòng thơ “ Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa” đi liền với dấu chấm lửng vừa bộc lộ bao cảm xúc của cháu vừa gợi cho người đọc nhiều liên tưởng và suy ngẫm. Cháu làm sao có thể quên được việc bà nhóm lửa mỗi sớm mai, làm sao có thể quên được tuổi thơ nghèo khó mà ấm áp tình bà cháu, làm sao có thể quên hình ảnh nguời bà với bao lo toan, lận đận và tấm lòng tận tụy hi sinh. Từ lời tự nhủ chính mình tác giả như nhắn nhủ với mọi người đừng bao giờ lãng quên cội nguồn quá khứ, quê hương.
4. Nghệ thuật đặc sắc
Tình bà cháu trong bài thơ được khắc họa nhờ những yếu tố nghệ thuật đặc sắc. Tác giả đã thành công trong việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa các yêu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự và bình luận góp phần thể hiện sâu sắc tình bà cháu. Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa vừa gần gũi chân thực vừa giàu ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng, luôn gắn liền với hình ảnh người bà làm điểm tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc.Từ một hình ảnh cụ thể của đời thường bình dị, tác giả đã mở ra nhiều liên tưởng, nêu lên nhiều vấn đề có ý nghĩa sâu xa. Giọng thơ tâm tình sâu lắng cũng rất phù hợp với dòng hồi tưởng và suy ngẫm. Kết cấu theo thể thơ tám chữ phù hợp với giọng điệu cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm.
“ Bếp lửa” là một bài thơ hay đặc sắc của Bằng Việt viết về tình bà cháu. Hơn nửa thế kỉ đã trôi qua nhưng bài thơ vẫn có sức sống mãnh liệt bền bỉ, vẫn nguyên vẹn trong tâm trí người đọc về hình ảnh người bà vất vả lam lũ mà nhân hậu giàu đức hi sinh cao cả cũng như tình yêu thương bà thiết tha cháy bỏng của cháu với bà. Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình quê hương đất nước
Đề 2: Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài thơ Bếp lửa - Bằng Việt?
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữu thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa !”
( Trích “ Bếp lửa ” - Bằng Việt)
Gợi ý
* Tìm hiểu đề:
- Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ
- Vấn đề nghị luận: Suy ngâm sẫu sắc của cháu về bà, về bếp lửa
- Phạm vi dẫn chứng: Đoạn thơ trên đề bài
* Tìm ý
- Giới thiệu khái quát chung
- Suy ngẫm về người bà
- Suy ngẫm về bếp lửa
- Nghệ thuật đặc sắc
* Lập dàn ý:
A/ Mở bài:
- Bằng Việt là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ của dân tộc. Thơ của ông thường hấp dẫn người đọc bởi những cảm xúc trong sang , chân thành và lối viết giản dị tự nhiên.
- Bài thơ “Bếp lửa” là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ đó của ông. Bài thơ sang tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên chuyên ngành luật ở Nga. TP đã làm lay động người đọc bởi những ký ức tuổi thơ nhọc nhằn gian khó bên người bà hiền hậu, tần tảo, bởi tình bà cháu thắm thiết, sâu nặng thiêng liêng…
- Đoạn trích thuộc khổ 6-khổ thơ gần cuối của bài, bộc lộ những suy ngẫm của người cháu về bà.
B/ Thân bài:
1. Khái quát: Bài thơ có nhan đề “Bếp lửa”- một hình ảnh rất đỗi quen thuộc trong đời sống con người Việt Nam. Song với riêng nhà thơ bếp lửa luôn là hình ảnh của bà và những tuổi thơ khó nhọc. Năm khổ đầu của bài thơ là những kỷ niệm như thế, hiện lên qua dòng hồi tưởng của nhà thơ, để đến khổ 6 chúng ta được lắng nghe những suy ngẫm về bà với đầy tình yêu thương và long biết ơn sâu nặng.
2. Những suy ngẫm về bà.
- Bà là người phụ nữ tần tảo nhẫn nại, giàu tình yêu thương và đức hi sinh:
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
……………………………………
Nhóm bếp lửa ấm iu nồng đượm...
Những kỷ niệm tuổi thơ lắng dần. Nếu những khổ thơ đầu là cảm xúc nhớ thương của đứa cháu nhỏ đối với bà thì đến đây, nó đã chuyển sang những suy nghĩ sâu sắc về bà. Từ láy “ lận đận” đặt ở đầu câu cùng biện pháp đảo ngữ gợi lên bao nhọc nhằn, khó khăn và gian truân mà bà đã phải trải qua. Thói quen của bà in hình vào bếp lửa sớm hôm tần tảo để lo cho con, cho cháu. Bà sống âm thầm mà giàu đức hy sinh. Viết được thơ hay như thế, tác giả phải là người cháu có tấm lòng thơm thảo, thấu hiểu và hàm ơn công lao của bà. Nếu có một bếp lửa quê nhà vẫn “ chờn vờn sương sớm” thì cũng có một ngọn lửa tình bà “ ấp iu nồng đượm”. Có lúc hai thứ lửa cùng tách ra, có khi lại hợp cùng nhau. Khi tách ra nó gợi về những kỷ niệm : kỷ niệm về bếp lửa củi rơm,( khói hun nhèm mắt cháu, sống mũi còn cay), kỷ niệm về bếp lửa tình bà. Nhưng khi đã hòa hợp với nhau nó trở thành một thứ tình cảm lạ kỳ. Sống mũi còn cay là cảm giác thực của ngày xưa ngồi bên cạnh bếp lửa bến bà và vẫn là cảm xúc thực hôm nay...
Điệp từ “ nhóm” được nhắc lại 4 lần trong đoạn thơ mang cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, gợi lại hình ảnh, cảm xúc hiện dần tỏa sáng dần dần. Ngoài gợi tả sự khéo léo làm cho lửa và chất đốt bén vào nhau, cháy lên, từ “ nhóm” còn gợi sự chi chút của tấm lòng người bà. Như một nốt nhấn trong dòng cảm xúc, nó làm vỡ òa ra bao ý nghĩa, bao hồi tưởng. Bà nhóm ngọn lửa ấm áp của đời sống vật chất và thường nhật trong không gian gia đình ấm cúng. Bà nhóm lửa của “ niềm yêu thương”, của “ nồi xôi gạo mới”, của tình đoàn kết, nghĩa xóm làng.Bà mở rộng tấm lòng nhóm lên ngọn lửa của tình yêu quê hương, đất nước. Ngôn ngữ tuy giản đơn nhưng nó lại gợi ra một điều sâu sắc rằng: Bếp lửa được bà nhen lên không chỉ bằng nguyên liệu bên ngoài mà còn là từ ngọn lửa trong lòng bà - ngọn lửa của sự sống, lòng yêu thương và niềm tin. Vì thế, bà mới có thể “ nhóm dậy” , khơi dậy ký ức tuổi thơ ngọt ngào nơi người cháu. Bà đã thức tỉnh tâm hồn và sức sống thanh xuân thời thơ ấu để đứa cháu khôn lớn nên người. Bà nhóm ngọn lửa tâm hồn, nhóm lửa cuộc đời để cho cháu sức mạnh trưởng thành. Hình ảnh bà vụt tỏa sáng, lung linh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam bên bếp lửa mang đậm bản sắc văn hóa Việt, để cháu phải thốt lên rằng:
“Ôi, kỳ lạ thiêng liêng bếp lửa!”
3. Suy ngẫm về bếp lửa
“Ôi, kỳ lạ thiêng liêng bếp lửa!”Câu cảm tác giả sử dụng giúp bộc lộ một cảm xúc trào dâng mãnh liệt đến tận cùng. Cảm xúc trong trái tim tác giả dường như vỡ òa, không thể kìm nén. Từ ngữ được dùng hết sức biểu cảm, từ Bếp lửa được đặt ở cuối câu tạo nên một ấn tượng mạnh, gợi lên bao cảm xúc trong tâm hồn người đọc. “ Kỳ lạ và thiêng liêng” là những từ giàu ý nghĩa biểu tượng và đặc sắc. Bếp lửa “ kì lạ” vì không có gì có thể dập tắt được, nó cháy lên trong mọi hoàn cảnh, luôn sưởi ấm và tỏa sáng bất diệt. Và đặc biệt bếp lửa bé nhỏ đơn sơ như vậy nhưng ánh sáng của nó lại có thể soi đường , thắp sáng, nuôi dưỡng những ước mơ cao đẹp cho cháu.
Bếp lửa “ thiêng liêng”, vì nơi ấy ấp ủ và sáng lên mãi tình cảm bà cháu, là bếp lửa của lòng bà, của tình yêu mà bà luôn giữ trọn , gửi trọn cho cháu., cho quê hương và cho đất nước. Đó là bếp lửa hội tụ tất cả những gì đẹp đẽ nhất , là tình bà ấm nồng , tình đất nước , không khí thời đại và văn hóa dân tộc.
=> Tình cảm của cháu: Nhớ về bà là nhớ về bếp lửa, là nhớ về tình yêu quê hương đất nước, đó là tình yêu quê hương, yêu đất nước nồng nàn của tác giả và cũng là vẻ đẹp nhân văn của tác phẩm. Trong đoạn thơ ta không bắt gặp từ “ nhớ”, “ thương” nào nhưng vẫn cảm nhận được xúc cảm rưng rưng của tác giả. Đó chính là tính biểu cảm , gợi cảm mà ngôn ngữ thơ làm được.
4. Nghệ thuật: Bài thơ kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với kể chuyện, miêu tả và bình luận, hình ảnh thơ chân thực và giàu ý nghĩa biểu tượng, phép đảo ngữ và điệp từ sử dụng rất hiệu quả... Thành công của Bếp lưả còn ở sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, để làm điểm tựa khơi gợi mọi kỷ niệm cảm xúc.
C/ Kết bài: Tóm lai, đoạn thơ trên nói riêng và bài thơ Bếp lửa nói chung đã gợi lại những kỷ niệm đầy xúc động về bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương và đất nước. Qua sự rung cảm mà từ ngữ đem đến, tác giả nhắc nhở chúng ta bài học nhân sinh sâu sắc. Đó là bài học “ Uống nước nhớ nguồn” và triết lý : kỉ niệm dẫu nhọc nhằn, vất vả vẫn sẽ là hành trang nâng bước ta đi trên con đường dài rộng của cuộc đời.
Đề 2: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đàn bà dựng lại túp lều tranh
Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”
* Tìm hiểu đề:
- Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ
- Vấn đề nghị luận: Những kỉ niệm tuổi thơ bên bà và bếp lửa
- Phạm vi dẫn chứng: Đoạn thơ trên đề bài
* Tìm ý
- Giới thiệu khái quát chung
- Kỉ niệm năm lên bốn tuổi
- Kỉ niệm suốt tám năm ròng
- Kỉ niệm năm giặc đốt làng
- Nghệ thuật đặc sắc
* Lập dàn ý:
I. Mở bài:
- Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta. Thơ ông trong trẻo, mượt mà và tràn đầy cảm xúc, thường khai thác những kỉ niệm thời thơ ấu và gợi những ước mơ của tuổi trẻ. “Bếp lửa” là bài thơ in đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật độc đáo ấy. Ra đời năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học tập ở nước ngoài, thi phẩm là dòng kỉ niệm xúc động về người bà và tình bà cháu, thể hiện lòng kính yêu trân trọng, biết ơn của người cháu đối với bà, cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.Điều đó được thể hiện rõ trong đoạn thơ sau: (Trích dẫn đoạn thơ ra)
II. Thân bài:
1.Khái quát ( Dẫn dắt vào bài):
Là một trong những sáng tác đầu tay của Bằng Việt, “Bếp lửa” được đánh giá là một bài thơ hay về tình bà cháu. Tình cảm ấy thể hiện qua dòng hồi tưởng của người cháu về những năm tháng tuổi thơ với biết bao kỉ niệm. Mỗi kỉ niệm lại được bao bọc trong một nỗi nhớ thương vừa dâng trào, vừa sâu lắng.
2. Phân tích, cảm nhận những kỉ niệm tuổi thơ bên bà
Mở đầu đoạn thơ là hình ảnh bếp lửa lung linh, chập chờn:
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
Ba tiếng “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần, trở thành điệp khúc da diết ngay từ những dòng thơ đầu tiên. “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt Nam trước đây. Bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh chờn vờn “sương sớm”,thật thân thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”.Từ láy“chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi thương đến dáng hình bập bùng của ngọn lửa, mờ ảo trong làn sương buổi sớm. “Ấp iu” gợi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm bếp. Hình ảnh bếp lửa hiện lên huyền ảo, hình ảnh người bà hiện ra tảo tần – bà đã chịu đựng bao“nắng mưa” để nuôi cháu thành người. Nhớ về bà, cảm xúc của cháu được gọi thành tên: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”.Vậy nên, trong tâm tưởng của người cháu nơi xa, sự xuất hiện của hình ảnh bếp lửa đã khơi gợi mạch nguồn cảm xúc để cháu nhớ về bà, nhớ về tình bà cháu.
Bếp lửa gợi dậy cả một ký ức của tuổi ấu thơ – như một thước phim quay chậm tất cả đã ùa về:
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.
Mùi khói cay nhèm của bếp rơm, bếp rạ đã đi vào kí ức của Bằng Việt từ những ngày còn thơ bé. Đó cũng là một tuổi thơ cay cực gắn liền với gian đoạn đau thương, khủng khiếp . Đau thương bởi bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945.Trong làn khói sương của kỉ niệm, nhà thơ nhớ lại những kí ức bi thương nhất. Đó là cái “đói mòn đói mỏi”,hình ảnh “khô rạc ngựa gầy” của hơn hai triệu người dân ở làng quê Việt Nam, là dáng hình của người cha trong lao động vất vả. Song, cũng chính trong khoảng thời gian ấy, bếp lửa vẫn cháy sáng,vẫn ấm nóng nồng đượm bởi tình bà. Cảm xúc hiện tại, kỉ niệm năm xưa hòa lẫn “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”.
Đó còn là kỉ niệm về người bà lụi cụi, chắt chiu, nhóm lên ngọn lửa ấm ấp để nuôi dưỡng, bao bọc, chở che cho đứa cháu:
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
…….Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Tám năm sống cùng bà là tám năm cháu nhận được sự yêu thương, che chở, dưỡng nuôi tâm hồn từ tấm lòng bà – “bà bảo cháu nghe, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”. Cảm ơn cái công ơn ấy, người cháu càng thương bà: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”. Bà và bếp lửa là chỗ dựa tình thần, là sự chăm chú, đùm bọc dành cho cháu. Bếp lửa của quê hương, bếp lửa của tình bà lại gợi thêm một kỉ niệm của tuổi thơ – kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú trên đồng quê mỗi độ hè về. Tiếng chim như giục giã, như k hắc khoải một điều gì da diết khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm, nhớ mong. Đưa âm thanh tiếng chim tuhú vào dòng hồi tưởng là một sáng tạo độc đáo của nhà thơ Bằng Việt– nó khiến cho không gian kỉ niệm như có chiều sâu, và nỗi nhớ thương bà của cháu càng trở nên thăm thẳm, vời vợi. Tiếng chim tu hú đã trở thành một mảnh tâm hồn tuổi thơ cháu. Có thể nói, ngời sáng từ những dòng thơ là hình ảnh người bà tần tảo,giàu tình yêu thương. Bà là cha, là mẹ của đứa cháu trong những năm tháng gian khổ.
Đọng lại trong kỉ niệm của người cháu là:
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
……Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Đoạn thơ có sự kết hợp giữa tự sự và miêu tả, đã tái hiện một cách chân thực cuộc sống đầy những mất mát, đau thương của dân tộc ta những năm chống Pháp. Và cũng thấm thía tình làng nghĩa xóm đoàn kết, bao bọc lúc hoạn nạn, khó khăn. “Mẹ cùng cha công tác bận không về”, cháu sống trong sự cưu mang, dạy bảo của bà, sớm có ý thức tự lập, sớm phải lo toan. Điều khiến cháu xúc động nhất là một mình bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi để trải qua những năm tháng gian nan, đau khổ mà không hề kêu ca, phàn nàn. Bà mạnh mẽ, kiên cường trong hoàn cảnh chiến tranh đạn lửa.
Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh:
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên
Vậy là bà đã gồng mình gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm công tác. Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc. Bà thật là giàu lòng yêu thương.Chan chứa trong từng lời thơ, ta cảm nhận một lòng biết ơn, niềm tự hào của đứa cháu đã trưởng thành khi nghĩ về người bà thân yêu.
3. Nghệ thuật đặc sắc:
Có thể nói rằng qua đoạn thơ trên và toàn bài thơ, bằng việc sáng tạo nhiều hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng, đặc biệt là hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa; thể thơ tám chữ phù hợp với cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm; Bằng Việt đã để lại trong người đọc chúng ta tình bà cháu vô cùng cao đẹp. Tình cảm ấy là sự khởi đầu của tình yêu thương con người, tình yêu đất nước. Ngọn lửa của tình bà theo suốt những năm tháng cuộc đời nhà thơ, nuôi dưỡng, ấp ủ, chở che, mang đến cho cháu nghị lực.Ngọn lửa ấy sưởi ấm tấm lòng nhà thơ cũng như mỗi người đọc chúng ta.
III. Kết bài:
Tóm lại, tình bà cháu là tình cảm cao đẹp được Bằng Việt thể hiện rất sâu sắc trong đoạn thơ trên và bài thơ “Bếp lửa”.Bếp lửa – tình bà, tấm lòng yêu thương của bà trong mỗi chúng ta là những gì thiêng liêng nhất.
Nó nhắc nhở ta biết sống, biết yêu thương, xứng đáng với tầm lòng bà.
III. Những lỗi học sinh thường mắc
- Về hình thức trình bày: không khoa học, viết ẩu, không đảm bảo hình thức đoạn văn và bài văn.
- Về nội dung:
+ Bài tập về biện pháp tu từ không tuân theo kĩ năng làm bài.
+ Khi viết đoạn văn, bài văn còn thiếu ý luận điểm, các câu, đoạn văn chưa liên kết chặt chẽ.
IV. Bài tập vận dụng
- Viết hoàn chỉnh các đoạn văn, bài văn nghị luận ở dạng 2 và dạng 3.
- Phát hiện lỗi sai và sửa chữa trong bài viết hoàn chỉnh.
Ở dạng 2 và dạng 3: Khi đã định hình được dàn ý xong và tiến hành viết bài, cần lưu ý:
1. Đối với đoạn văn nghị luận xã hội:
+ Về hình thức: Viết hoa chữ cái đầu tiên của đoạn, lùi vào đầu dòng. Tùy theo yêu cầu dung lượng mỗi đề, đảm bảo không thừa không thiếu.
+ Về nội dung:
/ Phần mở đoạn và kết đoạn, các em viết thật ngắn gọn
/ Phần thân đoạn: Các câu trong đoạn phải hướng vào chủ đề, và các câu được sắp xếp theo một trình tự lo gic, hợp lí.
2. Đối bài văn nghị luận văn học
Khi đã định hình được dàn ý xong và tiến hành viết bài, cần lưu ý:
- Mở bài: Đảm bảo ngắn gọn, đủ ý ( Học sinh giỏi cần dảm bảo độc đáo, hấp dẫn)
- Thân bài: Trình bày mỗi luận điểm ít nhất là một đoạn văn, nên có câu chứa luận điểm, giữa các luận điểm cần liên kết chặt chẽ với nhau.
- Kết bài: Đảm bảo ngắn gọn, ấn tượng và tương xứng với mở bài về dung lượng
Lời kết
Thơ hiện đại Việt Nam là một trong những mảng kiến thức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong các đơn vị ra đề thi vào
CHUYÊN ĐỀ : ÔN TẬP THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
( Đoàn thuyền đánh cá, Bếp lửa)
Trong nền văn học hiện đại VN nhiều tác phẩm có giá trị đặc sắc đã được lựa chọn và đưa vào chương trình học giáo dục phổ thông. Mỗi tác phẩm không chỉ chứa đựng giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc mà còn phản ánh lịch sử đất nước con người Việt Nam. Theo giai đoạn lịch sử thì hai bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận và Bếp lửa của Bằng Việt được sáng tác trong giai đoạn từ năm 1954 - 1964. Thời kì này được đánh giá là giai đoạn chuyển tiếp, giai đoạn bản lề giữa thơ ca thời kì chống Pháp và chống Mĩ. Thơ viết về đất nước mở ra nhiều hướng khai thác và có nhiều sáng tạo mới mẻ. Đây cũng là giai đoạn mà thơ ca có nhiều mùa gặt bội thu. Nhiều nhà thơ tìm được cảm hứng từ hiện thực và vẻ đẹp con người hăng say xây dựng cuộc sống mới. Những đổi thay tốt đẹp từng ngày trong cuộc sống mới cùng với những tưởng tượng về cuộc sống ngày mai tươi sáng, gần gũi đã tạo nên những tứ thơ đẹp giàu ước mơ và chân thực.
A. ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ ( Huy Cận)
I. Kiến thức cơ bản
1. Tác giả
- Huy Cận ( 1919 – 2005) tên thật là Cù Huy Cận, quê ở Hà Tĩnh, ông được xếp vào hàng những tên tuổi nổi tiếng nhất của nền thơ Việt Nam hiện đại. Trước cách mạng, ông là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới.
- Đặc điểm sáng tác: Thơ Huy Cận giàu cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ, có nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ, gợi những liên tưởng, tưởng tượng phong phú, độc đáo.
- Tác phẩm chính : Lửa thiêng ( 1940), Thời mỗi ngày lại sáng ( 1958), Đất nở hoa ( 1960), Mẹ và em ( 1987), Chiến trường gần với chiến trường xa (1973), Ngôi nhà giữa nắng ( 1978), Hạt lại gieo ( 1984), Chim làm ra gió ( 1989), Lời tâm nguyện cùng hai thế kỉ ( 1997)…
- Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2001, ông được bầu là Viện sĩ Viện hàn lâm Thơ Thế giới, Năm 2005, được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng.
2. Tác phẩm
a) Hoàn cảnh sáng tác
- Năm 1958, Huy Cận có chuyến công tác đi thực tế dài ngày về cùng mỏ Quảng Ninh ( đây là thời kì cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, Miền Bắc đang trong công cuộc dựng xây chủ nghĩa xã hội và làm hậu phương cho tiền tuyến Miền Nam).
- Từ chuyến đi thực tế này, hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới, mở một chặng đường mới trong thơ Huy Cận. Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá được ông Sáng tác trong chuyến đi này và đưa vào tập Trời mỗi ngày lại sáng ( 1958).
b) Thể thơ: 8 chữ
c) Bố cục: Bài thơ được bố cục theo hành trình một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá.
- Hai khổ đầu : Cảnh lên đường và tâm trạng náo nức của con người
- Bố khổ tiếp : Cảnh hoạt động của đoàn thuyền đánh cá giữa khung cảnh biển trời ban đêm.
- Khổ cuối: Cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh lên
3. Giá trị nội dung
- Bài thơ là một khúc tráng ca khỏe khoắn, hào hùng ngợi ca vẻ đẹp tráng lệ, kì vĩ thân thuộc của thiên nhiên và vẻ đẹp của người lao động mới trong công cuộc dựng xây chủ nghĩa xã hội. Từ đó, nhà thơ bộc lộ niềm vui, niềm tự hào, tin tưởng trước đất nước, con người và cuộc sống mới.
4. Giá trị nghệ thuât.
- Bằng bút pháp lãng mạn và trí tưởng tượng phong phú, nhà thơ sáng tạo được nhiều hình ảnh lạ, đẹp và giàu sức gợi: hình ảnh lộng lẫy của những loài cá ( dệt biển muôn luồng sáng, lấp lánh đuốc đen hồng, đuôi quẫy trăng vàng chóe, vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông); vẻ đẹp lung linh của trăng trên biển( Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long); hình ảnh kì vĩ của đoàn thuyền đánh cá ( Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời)…
- Thể thơ, cách gieo vần linh hoạt, nhịp điệuthơ đã mang đến giọng điệu thơ khỏe khoắn, sôi nổi; gợi cảm xúc bay bổng, lãng mạn. Cả bài thơ là khúc ca phơi phới niềm vui, hào hứng, mê say trong tình yêu thiên nhiên, yêu lao động.
II. Luyện tập
* Về các dạng câu hỏi và đề bài
Dạng 1: Câu hỏi đọc - hiểu
- Nội dung kiến thức: Dạng câu hỏi này thường xoay quanh các đơn vị kiến thức về
+ Tác giả, tác phẩm ( hoàn cảnh sáng tác, bố cục, mạch cảm xúc , ý nghĩa nhan đề ..gợi nhớ văn bản khác cùng chủ đề)
+ Từ vựng: biện pháp tu từ, giải nghĩa từ,…
+ Ngữ pháp: Các thành phần câu, kiểu câu…
+ Nội dung đoạn thơ
…
- Cách làm:
+ Bước 1: Đọc kĩ ngữ liệu cho
+ Bước 2: Đọc các câu hỏi , gạch chân dưới các từ trọng tâm
+ Bước 3: Trả lời trực tiếp vào câu hỏi. Câu trả lời đảm bảo: chính xác đầy đủ, ngắn gọn. Riêng câu hỏi về biện pháp tu từ cần đảm bảo đúng kĩ năng làm bài tập dạng đó.
Dạng 2: Viết đoạn văn nghị luận xã hội
Từ nội dung của đoạn trích hoặc văn bản, yêu cầu viết một đoạn văn nghị luận về chủ đề liên quan xoay quanh 2 dạng bài:
- Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống.
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý
Dạng 3: Viết bài văn nghị luận văn học
- Thường là:
+ Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
+ Nghị luận về một vấn đề trong đoạn thơ, bài thơ
- Khi gặp dạng bài này cần nắm được:
+ Yêu cầu của đề: Cảm nhận, suy nghĩ, phân tích
+ Vấn đề nghị luận:
/ Nghị luận về đoạn thơ hoặc bài thơ
/ Nghị luận về một phương diện, khía cạnh : tâm trạng nhân vật trữ tình, nét nghệ thuật đặc săc…
* Bài tập minh họa
Dạng 1: Câu hỏi Đọc - hiểu
Câu 1: Cho câu thơ “Mặt trời xuống biển như hòn lửa”
1. Chép tiếp những câu thơ còn lại để hoàn thiện khổ thơ? Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ? Nêu nội dung chính của khổ thơ em vừa chép?
2. Nêu bố cục của bài thơ Đoàn thuyền đánh cá? Với việc tạo ra bố cục như vậy, nhà thơ Huy Cận muốn gửi gắm điều gì?
3. Kể tên một văn bản khác cũng được sáng tác trong một chuyến đi thực tế, cho biết tên tác giả?
4. Chỉ ra và phân tích các biện pháp tu từ trong 2 câu thơ đầu của đoạn.
5. Biển nước ta ở phía Đông, ta chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển, tai sao Huy Cận lại viết “Mặt trời xuống biển”. Cách viết đó tưởng như vô lí nhưng lại có lí ở chỗ nào?
6. Cảm nhận về đoạn thơ trên bằng đoạn văn tổng – phân – hợp (khoảng 8 – 10 câu) sử dụng 1 câu chứa thành phần phụ chú, gạch chân.
Gợi ý
1. HS chép chính xác
- Hoàn cảnh sáng tác: 4/10/1958 – thời kì đầu miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhà thơ đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh.
- Nội dung: Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi và tâm trạng náo nức của người đi biển vào đêm thật kì vĩ, tráng lệ.
2. Bố cục bài thơ: theo hành trình một chuyến ra khơi của đoàn huyền đánh cá- theo trình tự thời gian:
+ Đoàn thuyền đánh cá ra khơi - khi hoàng hôn buông xuống.
+ Đoàn thuyền đánh cá trên biển- khi có trăng đẹp.
+ Đoàn thuyền đánh cá trở về- khi bình minh một ngày mới bắt đầu.
-> Hành trình của đoàn thuyền gắn với sự chuyển biến của thời gian: đoàn thuyền ra đi vũ trụ kết thúc một ngày; đoàn thuyền trở về khi vũ trụ bắt đầu một ngày mới.
=> Việc tạo ra bố cục như vậy, nhà thơ Huy Cận muốn ngợi ca hình ảnh con người lao động trong tư thế làm chủ thiên nhiên, vũ trụ. Con người hoạt động nhịp nhàng với vũ trụ. Qua đó, Huy Cận bộc lộ niềm tự hào, niềm tin tưởng vào cuộc sống nở hoa bắt đầu từ lao động.
3. Một văn bản khác cũng được sáng tác trong một chuyến đi thực tế:
Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành Long
4. Hai câu thơ sử dụng biện pháp tu từ:
+ So sánh: Hình ảnh “Mặt trời” với hình ảnh “hòn lửa”, giữa hai hình ảnh có sự tương đồng về màu sắc và hình khối. Cách so sánh làm nổi bật vẻ đẹp lộng lẫy và rực rỡ của cảnh biển lúc hoàng hôn.
+ Ẩn dụ “sóng đã cài then đêm sập cửa” tạo liên tưởng thật đẹp, vũ trụ là mái nhà, màn đêm là cánh cửa, những đợt sóng dài chuyển động là những chiếc then.
+ Nhân hóa: Sử dụng câu từ chỉ hành động của con người :”xuống, cài, sập” để chỉ hành động của thiên nhiên,làm cho cảnh thiên nhiên thật sinh động.
5. Biển nước ta ở phía Đông, ta chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển nhưng Huy Cận lại viết “Mặt trời xuống biển”. Cách viết đó tưởng như vô lí nhưng lại có lí ở chỗ, điểm nhìn của đang ở trên thuyền, ngoài khơi xa hoặc trên một hòn đảo xa đất liền: Ông nhìn về phía Tây sẽ thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển. Hình ảnh đó là thực nhưng cũng có thể là hình ảnh trong cảm quan nghệ thuật của nhà thơ.
6. Cảm nhận về đoạn thơ:
* Về hình thức: Đoan văn viết theo lối tổng- phân- hợp, khoảng 8-10 câu, có sử dụng một câu chứa thành phần phụ chú( gạch chân)
* Về nội dung: Gồm ý cơ bản sau:
Mở đoạn: Đoạn thơ trên được trích trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận, đã rất thành công trong việc thể hiện cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi và tâm trạng náo nức của người đi biển vào đêm thật kì vĩ, tráng lệ.
Thân đoạn:
- Vũ trụ như một ngôi nhà lớn với màn đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ với những lượn sóng hiền hòa chạy ngang trên biển như những chiếc then cài cửa.
- Hình ảnh ẩn dụ kết hợp với nhân hóa trong câu thơ “Sóng đã......cửa” tạo cho câu thơ một sức hấp dẫn riêng.
- Hình ảnh “Mặt trời” với hình ảnh “hòn lửa”, giữa hai hình ảnh có sự tương đồng về màu sắc và hình khối. Cách so sánh làm nổi bật vẻ đẹp lộng lẫy và rực rỡ của cảnh biển lúc hoàng hôn. Mặt trời – một hòn lửa khổng lồ, đang từ từ lặn xuống biển.
- Thiên nhiên vũ trụ đi vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người lại bắt đầu một ngày lao động mới. Hình ảnh “câu hát căng buồm” – Cánh buồm căng gió ra khơi là ẩn dụ cho tiếng hát ở con người có sức mạnh làm căng cánh buồn. Câu hát là niềm vui, là niềm say xưa hứng khởi của những người lao động yêu nghề, yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi,làm giàu cho Tổ Quốc.
Kết đoạn: Bằng việc sử dụng các biện, pháp nghệ thuật đặc sắc: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, Huy Cận đã vẽ lên một bức tranh tuyệt đẹp của cảnh biển về đêm và không khí rạo rực của người lao động, từ đoạn thơ cho em thêm yêu thiên nhiên, yêu biển, đặc biệt là tình yêu lao động.
Thành phần phụ chú: Mặt trời – một hòn lửa khổng lồ, đang từ từ lặn xuống biển
Câu 2:
1. Trong bài “Cành phong lan bể” có câu:
“Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về”
Bài “Đoàn thuyền đánh cá” cũng có câu thơ giàu hình ảnh tương tự. Hãy chép chính xác khổ thơ có câu thơ đó.
2. Con “cá song” và “ngọn đuốc” là hai sự vật khác nhau trong thực tế nhưng nhà thơ Huy Cận lại có sự liên tưởng hợp lí. Tại sao? Câu thơ của ông giúp người đọc hiểu thêm gì về thiên nhiên và tài quan sát của ông?
3. Dưới đây là câu chủ đề cho một đoạn văn trình bày cảm nhận về khổ thơ yêu cầu chép ở câu một: “Chỉ với bốn câu thơ, Huy Cận đã cho ta thấy một bức tranh kì thú về sự đẹp đẽ của biển cả quê hương”
Em hãy viết tiếp khoảng 8 đến 10 câu để hoàn chỉnh đoạn văn trên theo phương pháp lập luận diễn dịch (có câu ghép và có thành phần tình thái)
4. Trong bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” , hình ảnh thơ nào được lặp lại nhiều lần nhằm làm nổi bật tư tưởng của bài thơ. Việc lặp lại đó nhằm nói lên tư tưởng gì?. Bằng một đoạn văn hãy chỉ ra ý nghĩa?
Gợi ý
1. HS tự chép
2,
- Sự liên tưởng của nhà thơ dựa trên cơ chế ẩn dụ. Bằng sự quan sát tinh tế, nhà thơ đã nhận ra nét tương đồng giữa hình ảnh con cá song và ngọn đuốc. . Đó là cùng có ánh sáng hồng lấp lánh trong màn đêm đen. Cá song đêm xuống thường nổi lên mặt biển hàng đàn cho đến lúc rạng đông, cá song thường có màu sắc rất sặc sỡ. Trên nền da sẫm có nhiều đốm vằn đỏ hồng như những ngọn đuốc đỏ rực sáng lên trong trăng sao
- Câu thơ giúp người đọc hiểu biết thêm về vẻ đẹp ở các loài cá, vẻ đẹp của thiên nhiên biển khơi, đó là vẻ đẹp lạ kì. Trí tưởng tượng của nhà thơ quả là kì diệu, bút pháp lãng mạn của nhà thơ quả là bay bổng. Điều đó đã chấp cánh cho hiện thực trở nên kì ảo, làm giàu thêm cái đẹp vốn có trong tự nhiên.
3, Yêu cầu về hình thức: Đoạn văn diễn dịch có độ dài khoảng 8 - 10 câu, có sử dụng thành phần tình thái và một câu ghép.
- Yêu cầu về nội dung:
+ Câu chủ đề: Chỉ với bốn câu thơ, tác giả đã cho ta thấy một bức tranh kì thú về sự đẹp đẽ của biển cả quê hương .
+ Các câu khai triển:
/ Tôn lên vẻ đẹp rực rỡ, kì diệu của biển cả là sắc màu của những đuôi cá, vẩy cá, mắt cá với những màu sắc rực rỡ.
/ Những con cá song giống như ngọn đuốc đen hồng đang lao đi trong luồng nước dưới ánh trăng lấp lánh quả là hình ảnh ẩn dụ, độc đáo
/ “Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe “ là hình ảnh đẹp nhất. Ánh trăng in xuống mặt nước, những con cá quẫy đuôi nư quẫy ánh trăng tan ra, vàng chóe.( Câu ghép)
- Vẻ đẹp ở biển khơi càng tráng lệ, càng huyền ảo hơn bởi hình ảnh nhân hóa: “Đêm thở: Sao lùa nước Hạ Long”. “Đêm” được miêu tả như một sinh vật đại dương đang thở. Phải chăng tiếng thở của đêm là tiếng rì rào của sóng. Đây là một hình ảnh đảo ngược, một sáng tạo nghệ thuật của Huy Cận, khiến cảnh thiên nhiên thêm sinh động.
4. Gồm những ý cơ bản sau:
- Khi đoàn thuyền ra khơi, “ câu hát” được cất lên, gió thổi căng cánh buồm đưa thuyền rẽ sóng.Tiếng hát lúc này là niềm vui, niềm lạc quan là tâm trạng phán trấn, họ hát thực hiện những ước mơ hồn hậu, mộc mạc, biển lặng, sóng êm, đàn cá đan dệt vào lưới của họ để chuyến ra khơi thắng lợi.
- Khi đánh cá trên biển, trong đêm khuya, vũ trụ nghỉ ngơi, họ lại cất cao tiếng hát “ ta hát bài ca gọi cá vào”. Thể hiện khí thế lao động hào hứng, hăng say, là tình yêu lao động của những người dân chài. Với tiếng hát gọi cá vào lưới, hào cùng với nhịp trăng gõ vào mạn thuyền, thể hiện hài hòa, hoạt động nhịp nhàng của con người với thiên nhiên vũ trụ, công việc lao động vất vả trở thành công việc nhẹ nhàng, phơi phới giàu chất thơ.
- Câu hát khi thuyền trở về bến, là khúc ca khải hoàn, là niềm vui chiến thắng, là sự thắng lợi mĩ mãn của chuyến ra khơi.
* Đoạn văn tham khảo:
Bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận được coi là một khúc tráng ca làm nổi bật hình ảnh người lao động mới với niềm tin vào cuộc sống mới. Nhà thơ Huy Cận đã dùng hình ảnh “câu hát” lặp đi lặp lại nhiều lần theo hành trình chuyến ra khơi nhưng mỗi lần lại có nội dung tư tưởng và ý nghĩa khác. Khi đoàn thuyền ra khơi, “ câu hát” được cất lên, gió thổi căng cánh buồm đưa thuyền rẽ sóng.Tiếng hát lúc này là niềm vui, niềm lạc quan là tâm trạng phán trấn, họ hát thực hiện những ước mơ hồn hậu, mộc mạc, biển lặng, sóng êm, đàn cá đan dệt vào lưới của họ để chuyến ra khơi thắng lợi. Khi đánh cá trên biển, trong đêm khuya, vũ trụ nghỉ ngơi, họ lại cất cao tiếng hát “ ta hát bài ca gọi cá vào”. Thể hiện khí thế lao động hào hứng, hăng say, là tình yêu lao động của những người dân chài. Với tiếng hát gọi cá vào lưới, hào cùng với nhịp trăng gõ vào mạn thuyền, thể hiện hài hòa, hoạt động nhịp nhàng của con người với thiên nhiên vũ trụ, công việc lao động vất vả trở thành công việc nhẹ nhàng, phơi phới giàu chất thơ. Khi lao động họ còn cất cao tiếng hát, tri ân biển: “ Biển cho ta cá như lòng mẹ/ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào”. Sau một đêm thức trắng, lao động mệt mỏi giữa biển khơi mênh mông, thuyền nào cũng đầy ắp cá, câu hát lại một lần nữa cất lên cùng gió khơi, đưa thuyền trở về bến, là khúc ca khải hoàn, là niềm vui chiến thắng, là sự thắng lợi mĩ mãn của chuyến ra khơi. Như thế tiếng hát của người lao động lặp đi lặp lại một lần nữa khẳng định bài thơ là khúc ca lao động, là tiếng hát trong hồn thơ Huy Cận khi – trời mỗi ngày lại sáng.
Dạng 2: DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Đề 1: Viết đọan văn ngắn nêu suy nghĩ về tình yêu lao động
* Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý.
- Vấn đề nghị luận: Tình yêu lao động.
- Phạm vi dẫn chứng: Thực tế cuộc sống và trong văn học.
* Tìm ý
- Giải thích khái niệm: Lao động là gì?
- Nhận xét, đánh giá
- Mở rộng
- Bài học nhận thức
* Lập dàn ý
1. Mở đoạn: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần nghị luận, ý nghĩa của lao động và yêu thích lao động.
2. Thân đoạn:
a. Giải thích khái niệm:
- Lao động là hoạt động có ý thức của con người nhằm tạo ra những sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người.
- Yêu thích lao động là luôn mong muốn được làm việc hết mình để góp phần tạo ra các sản phẩm phục vụ con người: “lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo” (Mác-xim Groki).
Biểu hiện:
- Người yêu lao động trong văn học, thơ ca và cuộc sống thực tế (lấy dẫn chứng).
- Biểu hiện của những kẻ lười lao động là vừa thấy khó khăn mệt mỏi đã vội bỏ cuộc.
b. Ý nghĩa
- Lao động là biến mơ ước của con người thành hiện thực: Chỉ có lao động mới giúp con người thực hiện được mơ ước, đem lại niềm vui, thúc đẩy con người sáng tạo.
- Điều tốt đẹp trong cuộc sống không tự dưng mà có, không ai đem cho mà bản thân mỗi con người phải tự làm ra, tự lao động để có.
- Lao động là cơ sở để con người tồn tại, phát triển, đi từ tiến bộ này đến tiến bộ khác.
- Lao động tạo ra giá trị vật chất và tinh thần phục vụ cho đời sống con người.
- Lao động đem lại niềm vui, khơi dậy những sáng tạo, thúc đẩy cuộc sống, xã hội phát triển
- Lao động giúp con người làm chủ bản thân, thực hiện trách nhiệm, bổn phận với gia đình, đóng góp xây dựng xã hội.
- Lao động giúp con người thực sự sống tự do.
c. Mở rộng:
- Phê phán lối sống lười biếng, dựa dẫm, ăn sẵn, chống lại thái độ lười biếng lao động, ỷ lại, không sáng tạo,…
d. Bài học nhận thức
+ Mỗi người không ngừng phấn đấu, rèn luyện để trở thành người lao động chân chính, có ích, người lao động giỏi trong tương lai. Cần có quan điểm lao động mới, có thái độ lao động tự giác, có kĩ thuật, có kỉ luật và đạt năng suất cao.
+ Là học sinh: tích cực, tự giác học tập và lao động vừa sức, rèn luyện để tương lai rộng mở, để góp phần xây dựng quê hương
3. Kết đoạn:
Khẳng định tầm quan trọng của tình yêu lao động.
Đề 2 : Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam.
Bài làm:
* Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý.
- Vấn đề nghị luận: Ý thức bảo vệ chủ quyền.
- Phạm vi dẫn chứng: Thực tế cuộc sống và trong văn học.
* Tìm ý
- Giải thích khái niệm: Biển đảo Việt Nam là gì
- Nhận xét, đánh giá
- Mở rộng
- Bài học nhận thức
* Lập dàn ý
1. Mở đoạn
- Biển đảo Việt Nam là phần lãnh thổ của đất nước ta, qua nghìn năm nó luôn gắn bó với đời sống của cư dân nước Việt cả về vật chất lẫn tinh thần nên ta phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo.
2. Thân đoạn
- Biển đảo Việt Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của nhân dân. Điều này đã được chứng minh bằng lịch sử và các tài liệu khoa học được công bố thể hiện quá trình khai phá, chiếm hữu và thực thi chủ quyền liên tục.
- Ý nghĩa của vùng biển đảo:
+ Biển nước ta có nguồn tài nguyên tiềm tàng và nhiều loại khoáng sản như than, sắt, cát thuỷ tinh,…
+ Đây còn là nguồn cung cấp hải sản lớn cho ngư dân của nước ta suốt bao nhiều đời, là nơi nương tựa và không gian sinh tồn của dân tộc. “Chủ quyền” là có quyền lực độc lập đối với một khu địa lí nên “bảo vệ chủ quyền biển đảo” là quyền lãnh thổ hợp pháp của đất nước ta ở biển.
+ Vùng biển và ven biển của nước ta nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch có giá trị như những cánh cửa mở ra để chủ động hội nhập kinh tế thế giới. Biển Đông còn là vị trí đặc biệt quan trọng về quân sự, biên giới phía Đông nơi có đường tiếp cận, bàn đạp tấn công của các thế lực xâm lược. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, chúng ta vẫn chưa hoàn toàn nhận thức được giá trị và tầm quan trọng của biển.
- Tại sao cần có ý thức bảo vệ vùng biển đảo:
+ Những năm gần đây, Trung Quốc đã có nhiều hành động xâm phạm đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam, làm cho tình hình biển Đông ngày càng thêm phức tạp.
- Làm thế nào để bảo vệ:
+ Cho nên, để bảo vệ chủ quyền biển đảo thì các thanh niên trước hết phải xác định giữ biển đảo bằng tri thức về chủ quyền dân tộc. Muốn vậy, học sinh cần cố gắng trong học tập, tiếp thu tri thức, nắm vững kiến thức lịch sử nói chung và kiến thức về biển đảo nói riêng.
+ Ta phải nhận thức rõ về ý nghĩa thiêng liêng và giá trị to lớn mà cha ông ta đã đổ máu để xây dựng để từ đó tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo.
+ Bên cạnh việc tiếp thu kiến thức, học sinh cũng cần rèn luyện kĩ nâng và những phẩm chất tốt đẹp với định hướng của lòng yêu nước để phấn đấu trở thành một người sống có ích xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước
3. Kết đoạn
- Bảo vệ chủ quyền, biển đảo Việt Nam, bảo vệ độc lập tự do của đất nước luôn là nhiệm vụ cần thiết và quan trọng đối với tất cả chúng ta.
Dạng 3: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Đề 1 : Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.
* Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một bài thơ
- Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp tráng lệ, kì vĩ, thân thuộc của thiên nhiên và vẻ đẹp của người lao động mới trong công cuộc xây dựng xây chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc. Niềm vui, niềm tự hào trước đất nước, con người và cuộc sống.
- Phạm vi dẫn chứng: Trong bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá”.
* Tìm ý
- Khái quát chung
- Cảnh đoàn thuyền ra khơi lúc hoàng hôn
- Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển đêm
- Cảnh đoàn thuyền trở về lúc bình minh
- Nghệ thuật đặc sắc của bài thơ
* Lập dàn ý
1. Mở bài:Cần nêu được:
- Giới thiệu tác giả ( chú ý Phong cách sáng tác)
- Giới thiệu văn bản.
- Nêu vấn đề nghị luận.
Tham khảo mở bài:
- Huy cận là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của phong traò thơ mới và là một nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam.
- Thơ Huy Cận luôn vận động ở nhiều đối cực, giọng điệu mộc mạc, chân tình, lắng đọng.
- Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá rút từ tập Trời mỗi ngày lại sáng ( 1958) được Huy Cận sáng tác trong chuyến đi thực tế về vùng mỏ Quảng Ninh năm 1958.
- Bài thơ là một khúc tráng ca khỏe khoắn, hào hùng ngợi ca vẻ đẹp tráng lệ, kì vĩ, thân thuộc của thiên nhiên và vẻ đẹp của người lao động mới trong công cuộc xây dựng xây chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc. Từ đó, nhà thơ bộc lộ niềm vui, niềm tự hào trước đất nước, con người và cuộc sống.
2. Thân bài
a. Giới thiệu khái quát chung: Năm 1958 miền Bắc bắt đầu đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong không khí náo nức sôi nổi khẩn trương trên con đường làm ăn tập thể. Trong một chuyến đi thực tế ở vùng biển Hòn Gai-Cẩm Phả được tận mắt chứng kiến cuộc sống của những con người lao động trên cùng biển quê hương cảm xúc trào dâng mãnh liệt Huy Cận đã viết bài thơ này nhằm làm nổi bật hình ảnh con người lao động mới trên mặt trận lao động sản xuất.
b. Đoàn thuyền đánh cá ra khơi và tâm trạng náo nức của người đi biển ( Hai khổ đầu)
* Cảnh biển vào đêm : vừa rộng lớn lại vừa gần gũi với con người qua những liên tưởng độc đáo.
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa
- Chi tiết “ Mặt trời xuống biển” có thể gây ra sự thắc mắc của người đọc, vì bài thơ tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ở vùng biển miền Bắc, mà ở biển nước ta, trừ vùng tây nam thường chỉ thấy cảng mặt trời mọc trên biển chứ không thể thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển. Ở đây, hình ảnh mawjrt trời xuống biển là được nhìn từ trên con thuyền đang ra biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn, nhìn về phía tây qua một khoảng biển thì vẫn có thể thấy như mặt trời xuống biển.
- Phép so sánh: “ Mặt trời xuống biển như hòn lửa”. gợi cảnh tượng tráng lệ khi hoàng hôn rực lên lần cuối phía chân trời. Giữa bốn bề là nước, nhìn về phía tây có cảm giác mặt trời như một hòn than cháy hồng đang lặn xuống biển.
- Nhân hóa : “ sóng đã cài then, đêm sập cửa”, Huy Cận đã có một liên tưởng thật bất ngờ: vũ trụ bao la trở thành ngôi nhà lớn, màn đêm bao phủ là tấm cửa khổng lồ, những lượn sóng lăn qua lăn lại trên đại dương là những then cửa.
* Đoàn thuyển ra khơi và tâm trạng náo nức của con người:
- Hoàng hôn buông xuống, vũ trụ nghỉ ngơi, người lao động lại bắt đầu một chuyến ra khơi. Họ chủ động mở cửa vũ trụ, đi trong biển đêm như đi trong ngôi nhà thân thuộc của mình. Phó từ “ lại” khẳng định công việc đánh cá đêm đã trở thành nhịp sống thân quen.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
- Khí thế phấn chấn, hào hứng, ngập tràn niềm vui, niềm lạc quan của người lao động: “ Câu hát căng buồm cùng gió khơi”. Ba hình ảnh: câu hát, cánh buồm, gió khơi bỗng hòa vào nhau trong một câu thơ thể hiện trí tưởng tượng phong phú, lãng mạn. Người đánh cá năng buồm và cất lên câu hát, nhà thơ có cảm giác như chính câu hát ấy đã làm căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cụ thể cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi.
- Câu hát của người lao động còn mang theo một niềm mong môi tha thiết, vừa hiện thực vừa lãng mạn:
Hát rằng: Cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày diệt biển muôn luồng sáng.
Đến diệt lưới ta, đoàn cá ơi!
+ Ngắt nhịp linh hoạt : ba câu thơ dưới ngắt theo nhịp 4/3 cổ điển, câu mở đầu khổ thơ ngắt nhịp phá cách 2/5 tạo âm hưởng vừa trang trọng vừa khỏe khoắn.
+ Hình ảnh so sánh đẹp, độc đáo: từ dáng cá hình thoi, nhà thơ chợt liên tưởng đến biển như một tấm lụa lớn mà đàn cá là “ đoàn thoi” đang vun vút qua lại. Liên tưởng này lại kéo theo một liên tưởng khác, “ đoàn thoi” cá diệt nên tấm lưới của người dân chài. Tiếng hát thể hiện mong ước hồn hậu của ngư dân: mong ước biển lặng, sóng êm ngợi ca vẻ đẹp và sự giàu có của biển cả và cả mong ước chuyển đi chiến thắng trở về.
c. Đoàn thuyền đánh cá trên biển và khí thế của người lao động ( bốn khổ giữa).
- Con thuyền vốn nhỏ bé trước biển cả bao la, qua cái nhìn của nhà thơ chợt trở nên lớn lao, kì vĩ, hòa nhập với kích thước của vũ trụ:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
+Hình ảnh “ thuyền” được đặt trong mối quan hệ hài hòa với thiên nhiên, là trung tâm được vũ trụ, thiên nhienr quây quần trợ giúp: gió là bánh lái, gió lái thuyền đi: trăng là buồm, buồm đầy trăng sáng, thế hiện trí tưởng tượng bay bổng, lãng mạn
+ Động từ “lưới” diễn tả vận tốc rất lớn, sự điêu luyện của tay lái. Đoàn thuyền trinh phục đại dương. Đoàn thuyền chủ động “ Ra đậu dặm xa dò bụng biển”, lập thế trận “ lưới vây giăng”. Người lao động chủ động nắm bắt thiên nhiên bằng trí tuệ, lòng dũng cảm và cả sự quyết tâm làm giàu cho đất nước.
- Công việc lao động của người đánh cá vốn nặng nhọc đã được nhà thơ diễn tả thật hào hứng, khỏe khoắn và lãng mạn.
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
…
Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chìm cá nặng.
+ Khí thế lao động mỗi lúc một hăng say, hào hứng. Người lao động cất cao tiếng hát mê say lao động, ngợi ca biển cả với bao ân tình sâu nặng, thiết tha.
+ Thiên nhiên thơ mộng không chỉ là nơi diễn ra công việc lao động mà còn giúp sức lao động cùng con người: sao lùa nước Hạ Long, trăng gõ vào mạn thuyền… cùng người lao đông đuổi cá vào lưới. Hoạt động của con người nhịp nhàng cùng thiên nhiên vũ trụ.
+ Công việc lao động ngày càng khẩn trương. Người lao động biện lên đẹp nhất, khỏe khoắn nhất là giây phút kéo lưới, Thành quả lao động của họ mĩ mãn “ chùm cá nặng” mà mẹ biển đáp đền. Từng khoang thuyền đầy ắp cá “ vẩy bạc đuôi vàng” lấp lánh chào đón ánh bình minh.
- Cảnh biển đẹp lộng lẫy với hình ảnh đàn cá. Có khi đàn cá được miêu tả trong ánh trăng sao:
Cá thu biển Đông như đàn thoi
Đêm ngày diệt biển muôn luồng sáng
…
Cả song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe.
Có khi hiện lên trong ánh bình minh
Vẩy bạc đuôi vàng lóe dạng đông
…
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
Hình ảnh đàn cá trên biển có vẻ đẹp của tranh sơn mài lung linh, huyền ảo là biểu tượng cho vẻ đẹp kì thú, tráng kệ về biển cả quê hương. Ở đây, trí tưởng tượng đã nối dài, chắp cánh cho hiện thực trở nên kì ảo, làm giàu thêm cái đẹp vốn có trong tự nhiên; khiến công việc lao động nặng nhọc trở nên thi vị, đầy niềm vui khi bội thu những mẻ cá lớn.
d. Đoàn thuyền đánh cá trở về ( khổ cuối).
- Đoàn thuyền đánh cá trở về trong khung cảnh bình minh một ngày mới rự rỡ huy hoàng.
Câu hát căng buồm cùng gió khơi,
Đoàn thuyền chạy qua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biểu nhỏ màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
+ Khổ thơ cuối hô ứng với khổ thơ đầu. Đối xứng với cảnh : “ Mặt trời xuống biển như hòn lửa” là cảnh “ Mặt trời đội biển nhô màu mới”, biểu hiện nhịp tuần hoàn của vũ trụ.
+ Lặp lại dòng thơ “ Câu hát căng buồm cùng gió khơi” chủ đổi chữ “ với” thành chữ “ cùng”. Tiếng hát của người dân chài xuất hiện trong toàn bài thơ: từ lúc ra khơi, trong khi đánh cá cho đến lúc trở về. Chữ “ hát” xuất hiện bốn lần trong bài thơ, đem lại âm điệu tươi vui, khỏe khoắn của một khúc ca lao động đầy hào hứng, say mê.
Sau một đêm thức trắng giữa biển khơi, đoàn thuyền trở về trong khúc ca khải hoàn thắng lợi vẫn có thiên nhiên bầu bạn bên mình. Người lao động vẫn trong tư thế sáng ngang cùng vũ trụ, làm chủ thiên nhiên vũ trụ trong cách nói khoa trương giàu màu sắc lãng mạn: “ Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”. Hành trình về bến của đoàn thuyền hòa nhập với khí thế đi lên của mặt trời vũ trụ hứa hẹn cuộc sống tươi đẹp đang bắt đầu nở hoa từ trong loa động.
3. Kết bài
- Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh thơ đẹp tráng lệ về biển trời vũ trụ bằng sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú và độc đáo; âm hưởng khỏe khoắn, sôi nổi, hào hùng, lạc quan; cảm hứng hiện thực và lãng mạn hòa hợp đan cài.
- Theo hành trình chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá, bài thơ là một khúc tráng ca về lao động, ca ngợi con người lao động với tinh thần làm chủ và về thiên nhiên đất nước giàu đẹp. Từ đó, nhà thơ bộc lộ niềm vui, niềm tự hào, tin tưởng trước đất nước, con người và cuộc sống mới.
Đề 2: Cảm nhận của em về vẻ đẹp hình ảnh người lao động trên vùng biển Hạ Long qua bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.
* Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một bài thơ
- Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của người lao động mới trong công cuộc xây dựng xây chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc.
- Phạm vi dẫn chứng: Bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá”
* Tìm ý
- Khái quát chung
- Vẻ đẹp của người lao động trong cảnh đoàn thuyền ra khơi lúc hoàng hôn
- Vẻ đẹp của người lao động trong cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển đêm
- Vẻ đẹp của người lao động trong cảnh đoàn thuyền trở về lúc bình minh
- Nghệ thuật khắc họa hình ảnh người lao động đặc sắc.
* Lập dàn ý
I. Mở bài
- Huy cận là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của phong traò thơ mới và là một nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam.Thơ Huy Cận luôn vận động ở nhiều đối cực, giọng điệu mộc mạc, chân tình, lắng đọng
- Đoàn thuyền đánh cá là một trong những bài thơ hay của Huy Cận sáng tác 1958 sau chuyến đi thực tế ở vùng biển Quảng Ninh
- Xuyên suốt cảm xúc lãng mạn của bài thơ là hình ảnh con người lao động mới say sưa nhiệt tình hết mình hiện lên với vẻ đẹp tâm hồn khỏe khoắn tràn ngập niềm vui niềm say mê lao động sản xuất
II. Thân bài
1. Giới thiệu khái quát chung
Năm 1958 miền Bắc bắt đầu đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong không khí náo nức sôi nổi khẩn trương trên con đường làm ăn tập thể. Trong một chuyến đi thực tế ở vùng biển Hòn Gai-Cẩm Phả được tận mắt chứng kiến cuộc sống của những con người lao động trên cùng biển quê hương cảm xúc trào dâng mãnh liệt Huy Cận đã viết bài thơ này nhằm làm nổi bật hình ảnh con người lao động mới trên mặt trận lao động sản xuất.
2. Hai khổ thơ đầu tác giả tập trung khái quát hình ảnh người lao động trong khung cảnh ra khơi dầy ấn tượng:
« Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
« Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi ! »
- Câu thơ mở đầu là một hình ảnh so sánh độc đáo: « mặt trời » lúc hoàng hôn trên biển như « hòn lửa » đỏ rực chói sáng kết hợp với hình ảnh nhân hóa « sóng » như chiếc « then » cài khổng lồ mà cánh cửa chính là màn đêm buông xuống đóng sập ngôi nhà vũ trụ... Trong khung cảnh hoàng hôn ngắn ngủi thiên nhiên hiện ra với vẻ đẹp đủ sắc màu. Chỉ với hai câu thơ cũng đủ mở ra trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên lúc hoàng hôn đẹp tráng lệ, hùng vĩ lộng lẫy vô cùng. Hình ảnh thơ vừa gợi vẻ huyền bí thách thức con người lao động.
- Trái với quy luật của thiên nhiên, khi cả vũ trụ đi vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người lại bắt đầu một ngày lao động mới.
+ Họ ra khơi trong tiếng hát ngập tràn biển cả quê hương. Chữ « lại » cho thấy hoạt động thường nhật lặp đi lặp lại mỗi ngày chứ không phải là cá biệt đột suất, mặt khác chữ « lại » còn biểu thị ý nghĩa ngược chiều ngược lại so với hoạt động có trước.
àNếu hiểu lúc này trời biển đã nghỉ ngơi mà con người lại ra khơi, thì mới thấy hết tinh thần chủ động sáng tạo của người dân vùng biển.
+ Với bút pháp lãng mạn tác giả đã sáng tạo hình ảnh « câu hát căng buồm » thật giàu sức gợi. Đoàn thuyền ra khơi mang theo những điệu hò câu hát hào sảng khỏe khoắn phơi phới niềm vui phấn chấn tự hào của những người lao động, như tạo ra sức mạnh đẩy đoàn thuyền đi nhanh hơn.
+ Trong lời ca tiếng hát rộn ràng những con người lao động như say sưa với sự giàu có của nguồn tài nguyên trong lòng biển. Tiếng gọi « cá ơi » sao thân thương trìu mến tác giả như kéo thiên nhiên xích lại gần gũi thân thiện hơn với con người .
3. Ở những khổ thơ tiếp theo tác giả đã tái hiện thật sinh động cảnh đánh cá ngoài khơi của những con người lao động:
- Bằng biện pháp so sánh nhân hóa liệt kê nhà thơ đã dựng lên một bức tranh sinh động lung linh kì ảo của biển khơi :
« Cá nhụ cá chim cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở, sao lùa nước Hạ Long. »
+ Cùng với sự liên tưởng độc đáo kết hợp với cái nhìn hiện thực của biển khơi nhà thơ ngợi ca sự giàu có của biển. Vùng biển quê hương có biết bao nhiêu loài cá quý hiếm : cá nhụ, cá chim, cá thu, cá song, cá đé lấp lánh hơn với đủ sắc màu
+ Nhịp thở của biển khơi trong đêm bao la được ví với sao với nước. « Sao » và « nước » là hai sự vật vốn dĩ cách xa nhau hàng vạn dặm nhưng qua hồn thơ Huy Cận chúng trở nên gần gũi thân thiết biết bao
à Cảnh biển lúc này đẹp như một bức tranh sơn mài lộng lẫy lung linh tráng lệ. Phải là người có tình yêu tha thiết với biển cả quê hương thì mới có thể viết nên những vần thơ kì diệu như vậy.
- Trong cảnh vui say phấn khởi của người lao động nhà thơ gợi ra hình ảnh bất ngờ kì ảo tưởng như phi lí nhưng lại rất hợp lí :
« Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng. »
+Trước vẻ lung linh kì ảo của biển khơi hình ảnh con người lại càng trở nên đẹp đẽ hơn. Con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé nhưng qua bút pháp lãng mạn con thuyền trở nên kĩ vĩ khổng lồ hòa nhập với khung cảnh rộng lớn của thiên nhiên.
+« Thuyền ta » lấy gió làm bánh lái cánh buồm là ánh trăng treo lung linh, trên có mây cao dưới có biển bằng đoàn đang lướt nhanh để chinh phục thiên nhiên. àTrước không gian bao la của vũ trụ con người không còn có cảm giác nhỏ bé đơn côi mà họ đã thực sự làm chủ thiên nhiên đất trời, họ như bắt thiên nhiên phục vụ con người với tư thế hiên ngang hào sảng,nâng mình ngang tầm vũ trụ.
+ Đến ngư trường "dò bụng biển", ngư dân khẩn trương lao vào công việc "dàn đan thế trận lưới vây giăng". Nhịp thơ hối hả lôi cuốn, cuộc đánh cá thực sự là một trận đánh trên mặt trận chiến đấu mới trong lao động sản xuất. Mỗi thủy thủ là một "chiến sĩ". Con thuyền, mái chèo, lưới, ngư cụ khác đều trở thành vũ khí của họ.
+ Chữ "lướt" đặc tả đoàn thuyền ra khơi với vận tốc phi thường; thiên nhiên cùng góp sức với con người trên con đường lao động và khám phá.
- Biển Việt Nam giàu đẹp, người Việt Nam yêu biển yêu nghề, tình yêu ấy khiến họ hăng say nhiệt tình trong công việc, họ vừa làm vừa cất cao tiếng hát:
“Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Biển cho ta cá như lòng mẹ,
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.”
+Nhà thơ đã vẽ ra trước măt người đọc một khung cảnh đánh cá trên biển mới sinh động và thú vị làm sao. Âm thanh tiếng hát gọi cá vào hòa chung nhịp gõ thuyền làm cho sự lao động vất vả tan biến vào màn đêm.
+ Với giọng thơ ấm áp, chứa chan nghĩa tình, với niềm xúc động trào dâng Huy Cận so sánh biển với lòng mẹ để nói lên lòng tự hào biết ơn của dân chài đối với biển quê hương.
à Câu thơ là một khúc ân tình hòa trong bài tráng ca lao động hào hùng.
- Một đêm trôi qua nhanh chóng trên bầu trời sao đã thưa trăng đã mờ khiến hco nhịp điệu lao động càng trở nên khẩn trương để đi vào hồi kết:
“ Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông
Lưới xếp, buồm lên đón nắng hồng.”
+Người dân chài đang chạy đua với thời gian để về kịp chợ cá buổi sáng. Câu thơ thứ hai gợi vẻ đẹp người lao động đầy chất tạo hình: những cánh tay săn chắc của người lao động đang kéo xoăn tay chum cá nặng. Câu thơ như dựng lên một bức chân dung sống động về những người dân chài có sức khỏe phi thường và sức sống mãnh liệt.
+ “Cá nặng” là hình ảnh ẩn dụ gợi cảnh được mùa cá . Hai câu sau khổ thơ có sự kết hợp nhịp nhàng giữa lao động của con người với sự vận hành của vũ trụ. Chữ “lóe” rất hay vừa gợi ánh bình minh đang lên vừa gợi sự nhảy nhót của đàn cá trong mẻ lưới.
+ Âm hưởng đoạn thơ trong sáng khỏe khoắn làm cho bức tranh lao động trở nên hùng tráng và đầy chất thơ. Con người và thiên nhiên hài hòa trong không khí và ánh sáng của một ngày mới .
4. Khổ thơ kết khép lại bài thơ khép lại một chuyến ra khơi, hình người lao động trở về bến trong cảnh bình minh với biết bao điều thú vị :
“Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.”
Sau một đêm dài vật lộn với sóng gió của biển khơi đoàn thuyền đánh cá trở về trong âm vang của ngày mới.
+Vẫn câu hát căng buồm nhưng không phải là « cùng gió khơi » mà là « với gió khơi » nghĩa là hị đã hoàn toàn chinh phục được thiê nhiên và trở về trong tư thế của người chiến thắng với tinh thần sảng khoái, khỏe khắn và tự tin.
+ “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”, cách nói khoa trương nhấn mạnh vẻ đẹp kì vĩ của con người hòa quyện với con thuyền tạo nên chất thơ bay bổng lãng mạn. Khi mặt trời đội biển nhô lên thì thuyền cũng đã về bến từ lâu cá đã dỡ xuống phơi màu muôn dặm.
+Hình ảnh “mặt trời đội biển nhô màu mới”,vừa là hình ảnh thực vừa giàu ý nghĩa tượng trưng, giàu liên tưởng về một cuộc sống mới đang bắt đầu với những con người lao động thực sự làm chủ biển khơi làm chủ cuộc đời mình.
+Bài thơ đa khép lại nhưng ý thơ mở ra đến vô cùng qua hình ảnh “mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”. Những khoang thuyền đầy ắp cá lấp lánh ánh bình minh tượng trưng cho những thành quả lao động, thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã gặt hái được trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là hình ảnh ẩn dụ mà nhà thơ Huy Cận như hứa hẹn một tương lai tốt đẹp đang chờ đón những con người lao động mới ỏ vùng biển Quảng Ninh.
5. Tóm lại “Đoàn thuyền đánh cá” đã đem đến thành công xuất sắc cho tác giả.
- Đặc sắc nhất về nghệ thuật thể hiện ở việc sử dụng bút pháp lãng mạn với các biện pháp : đối lập, so sánh, nhân hóa phóng đại.
+ Cùng với đó là việc khắc họa những hình ảnh đẹp về mặt trời lúc hoàng hôn khi bình minh, hình ảnh biển cả và bầu trời trong đêm, hình ảnh ngư dân và đoàn thuyền đánh cá.
+ Bài thơ đã miêu tả sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người bằng kiểu ngôn ngũ thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu, gợi liên tưởng.
- Cảm hứng chủ đạo của bài thơ dồn vào hai từ “cá” và “hát” trở thành điệp khúc của một khúc ca đẹp ca ngợi biển cả lớn lao giàu đẹp ca ngợi nhiệt tình lao động vì sự giàu đẹp của đất nước của những con người lao động.
+ Nhà thơ đã chứng tỏ sự hiểu biết chính xác tinh tường bằng đôi mắt quan sát tinh tế, trí tưởng tượng bay bổng diệu kì.
+ Với “Đoàn thuyền đánh cá”, Huy Cận đã thực sự đem đến một luồng gió mới một hơi thở nồng nàn ấm áp về cuộc sống mới, về con người lao động mới góp phần làm đẹp hình ảnh con người lao động trong thơ ca cách mạng dân tộc.
III. Kết bài:
- Bài thơ đem đến cho người đọc niềm tự hào về một đất nước giàu có dồi dào tiềm năng hải sản tự hào vền những con người lao động mới biết sống hết mình vì công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa làm cho đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp văn minh.
- Năm tháng trôi đi nhưng mãi mãi còn lại khúc ca “Đoàn thuyền đánh cá” để khích lệ tình yêu và niềm say mê công việc cho tất cả mọi người.
Đề 3: Cảm nhận về vẻ đẹp của đoàn thuyền đánh cá qua khổ thơ đầu và khổ thơ cuối trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
...
Câu hát căng buồm với gió khơi.
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.”
(Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.139,140)
* Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ.
- Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của đoàn thuyền đánh cá.
- Phạm vi dẫn chứng: 2 đoạn thơ trên đề bài.
* Tìm ý
- Khái quát chung
- Vẻ đẹp của đoàn thuyền trong cảnh ra khơi lúc hoàng hôn
- Vẻ đẹp của đoàn thuyền trong cảnh trở về lúc bình minh
- Nghệ thuật khắc họa đặc sắc.
* Lập dàn ý
1. Mở Bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu đoạn trích: Đây là hai khổ thơ đầu miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi đầy hào hứng và khổ thơ cuối khi đoàn thuyền trở về.
2. Thân bài
a. Khổ 1: Cảnh ra khơi và tâm trạng náo nức của con người.
* Cảnh hoàng hôn trên biển.
– Cảnh mặt trời lặn được miêu tả thật độc đáo và ấn tượng:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
– Nghệ thuật so sánh nhân hóa cho thấy cảnh biển hoàng hôn vô cùng tráng lệ, hùng vĩ. Mặt trời được ví như một hòn lử khổng lồ đang từ từ lặn xuống. Trong hình ảnh liên tưởng này, vũ trụ như một ngôi nhà lớn, với đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ, những lượn sóng là then cửa. Chi tiết Mặt trời xuống biển có thể gây ra sự thắc mắc của người đọc vì bài thơ tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ở vùng biển miền Bắc, mà ở bờ biển nước ta, trừ vùng Tây Nam thường chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển chứ không thể thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển. Thực ra hình ảnh mặt trời xuống biển là được nhìn từ trên con thuyền đang ra biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn, nhìn về phía tây, qua một khoảng biển thì vẫn có thể thấy như là mặt trời xuống biển. Với sự quan sát tinh tế nhà thơ đã miêu tả rất thực chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêm.
* Khi thiên nhiên bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu làm việc
“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm với gió khơi”
– Đoàn thuyền chứ không phải chỉ con thuyền ra khơi đã tạo ra sự tấp nập trên biển. Chữ “Lại” vừa khẳng định nhịp điệu lao động của người dân chài đã đi vào ổn định, vừa thể hiện sự đối lập giữa sự nghỉ ngơi của đất trời và sự làm việc của con người.
– Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật từ sự gắn kết 3 sự vật và hiện tượng: Câu hát, cánh buồm và gió khơi. Người đánh cá căng buồm và cất câu hát lên nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó đã làm căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi.
– Nghệ thuật ẩn dụ trong hình ảnh thơ lãng mạn này đã góp phần thể hiện một hiện thực: Đó là niềm vui phơi phới, tinh thần lạc quan của người dân chài. Họ ra khơi trong tâm trạng đầy hứng khởi vì học tìm thấy niềm vui trong lao động, yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi làm giàu cho Tổ quốc.
Khổ thơ cuối: Cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh lên.
- Câu đầu tác giả lặp lại ở khổ thơ 1: “Câu hát căng buồm với gió khơi”
+ Có từ “với” là khác, có lẽ tác giả tránh sự lặp lại ở câu thơ trước => làm cho khổ thơ cuối giống như điệp khúc của một bài hát, tạo cảm giác tuần hoàn về thời gian, về công việc lao động; nhấn mạnh khí thế tâm trạng của những người dân. Đoàn thuyền ra đi
hào hứng sôi nổi, nay trở về cũng với tinh thần ấy rất khẩn trương. Câu hát đưa thuyền đi nay câu hát lại đưa thuyền về.
+ Bằng biện pháp khoa trương và hình ảnh nhân hóc Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời: cho thấy con người và vũ trụ chạy đua trong cuốc vận hành vô tận, con người đã mang tầm vóc lớn lao của thiên nhiên vũ trụ trong cuộc chạy đua này và con người đã chiến thắng.Có thể nói Huy Cận đã lấy tình yêu của mình đối với cuộc sống mới của nhân dân khám phá ra vẻ đẹp hùng vĩ. Thay vào không gian vũ trụ buồn hiu hắt của thơ ông trước cách mạng tháng Tám.
b. Khổ cuối: Bình minh trên biển
- Mở đầu bài thơ là cảnh hoàng hôn, kết thúc bài thơ là cảnh bình minh” Mặt trời đội biển nhô màu mới”. Ánh mặt trời sáng rực, từ từ nhô lên ở phía chân trời xa cảm giác như mặt trời đội biển. Câu thơ với ẩn dụ táo bạo cho thấy sự tuần hoàn của thời gian, của vũ trụ.
- Hình ảnh “mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” gợi nhiều liên tưởng như những mặt trời nhỏ bé đang tỏa rạng niềm vui trước thành quả lao động mà con người đã giành được sau một đêm lao động trên biển. => đó là cảnh tượng đẹp huy hoàng giữa bầu tròi và mặt biển, giữa thiên nhiên và thành quả lao động.
c. Đánh giá nghệ thuật đặc sắc của 2 khổ thơ:
- Bằng bút pháp lãng mạn và trí tưởng tượng phong phú , nhà thơ đã sáng tạo được nhiều hình ảnh lạ ,đẹp, và giàu sức gợi.
- Các biện pháp : đối lập, so sánh, nhân hóa phóng đại, cách gieo vần được vận dụng tài tình biến hóa linh hoạt.
- Cả hai khổ thơ tạo được âm hưởng vừa khỏe khoắn sôi nổi lại vừa phơi phới, bay bổng. Góp phần tạo nên âm hưởng ấy là các yếu tố lời thơ, nhịp điệu, vần. Cách gieo vần trong bài thơ biến hóa, linh hoạt, các vần trắc xen lẫn vần bằng, vần liền xen với vần cách. Các vần trắc tạo sức dội, sức mạnh, các vần bằng tạo sự vang xa, bay bổng, tạo nên những vần thơ khoáng đạt, kì vĩ, phơi phới niềm vui.
3. Kết bài
- Chỉ với khổ đầu và cuối bài“ Đoàn thuyền đánh cá”cũng đủ cho người đọc cảm nhận Huy Cận đã ca ngợi sự giàu đẹp của biển quê hương không khí làm ăn tập thể hăng hái, tin tưởng, người lao động làm chủ trong cuộc đời mới tràn đầy sức mạnh thể chất và tinh thần, ca ngợi sự hòa hợp tuyệt đẹp giữa con người với thiên nhiên.
- Đó là cái nhìn mới mẻ thiết tha tin yêu cuộc sống của nhà thơ. Lời thơ đem đến cho người đọc niềm tự hào về một đất nước giàu có dồi dào tiềm năng hải sản, tự hào về những con người lao động mới biết sống hết mình vì công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa làm cho đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp văn minh
ĐỀ 4: Viết bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của khổ thơ sau:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
( Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận)
* Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ.
- Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của khổ thơ ( nội dung, nghệ thuật)
- Phạm vi dẫn chứng: Đoạn thơ trên đề bài.
* Tìm ý
- Khái quát chung
- Vẻ đẹp của cảnh hoàng hôn
- Vẻ đẹp của người lao động
- Nghệ thuật khắc họa đặc sắc.
* Lập dàn ý
1. Mở bài :
- Giới thiệu đôi nét về tác giả và tác phẩm
- Giới thiệu khái quátnội dung và trích dẫn đoạn thơ.
2. Thân bài: Cảm nhận cảnh ra khơi và tâm trạng náo nức của con người trong bốn câu thơ
a. Khái quát chung
- Vị trí khổ thơ
- Nội dung khổ thơ
b. Cảnh hoàng hôn trên biển.
– Cảnh mặt trời lặn được miêu tả thật độc đáo và ấn tượng:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
– Nghệ thuật so sánh nhân hóa cho thấy cảnh biển hoàng hôn vô cùng tráng lệ, hùng vĩ. Mặt trời được ví như một hòn lử khổng lồ đang từ từ lặn xuống. Trong hình ảnh liên tưởng này, vũ trụ như một ngôi nhà lớn, với đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ, những lượn sóng là then cửa. Chi tiết Mặt trời xuống biển có thể gây ra sự thắc mắc của người đọc vì bài thơ tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ở vùng biển miền Bắc, mà ở bờ biển nước ta, trừ vùng Tây Nam thường chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển chứ không thể thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển. Thực ra hình ảnh mặt trời xuống biển là được nhìn từ trên con thuyền đang ra biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn, nhìn về phía tây, qua một khoảng biển thì vẫn có thể thấy như là mặt trời xuống biển. Với sự quan sát tinh tế nhà thơ đã miêu tả rất thực chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêm.
c. Khi thiên nhiên bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu làm việc
“ Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm với gió khơi”
– Đoàn thuyền chứ không phải chỉ con thuyền ra khơi đã tạo ra sự tấp nập trên biển. Chữ “Lại” vừa khẳng định nhịp điệu lao động của người dân chài đã đi vào ổn định, vừa thể hiện sự đối lập giữa sự nghỉ ngơi của đất trời và sự làm việc của con người.
– Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật từ sự gắn kết 3 sự vật và hiện tượng: Câu hát, cánh buồm và gió khơi. Người đánh cá căng buồm và cất câu hát lên nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó đã làm căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi.
– Nghệ thuật ẩn dụ trong hình ảnh thơ lãng mạn này đã góp phần thể hiện một hiện thực : Đó là niềm vui phơi phới, tinh thần lạc quan của người dân chài. Họ ra khơi trong tâm trạng đầy hứng khởi vì học tìm thấy niềm vui trong lao động, yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi làm giàu cho Tổ quốc.
d. Nghệ thuật đặc sắc
- Bằng bút pháp lãng mạn và trí tưởng tượng phong phú , nhà thơ đã sáng tạo được nhiều hình ảnh lạ ,đẹp, và giàu sức gợi.
- Các biện pháp : đối lập, so sánh, nhân hóa, cách gieo vần được vận dụng tài tình biến hóa linh hoạt.
- Khổ thơ tạo được âm hưởng vừa khỏe khoắn sôi nổi lại vừa phơi phới, bay bổng. Góp phần tạo nên âm hưởng ấy là các yếu tố lời thơ, nhịp điệu, vần.
3. Kết bài:
- Cảm nhận chung của em với 4 câu thơ và khẳng định tài hoa của tác giả Huy Cận.
Đề 5: Cảm nhận về vẻ đẹp của biển cả và niềm vui của người lao động trong đoạn thơ sau:
Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng,
Vảy bạc đuôi vàng loé rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
(Trích Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận,
Ngữ văn 9 Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam 2017)
* Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ.
- Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của biển cả và niềm vui của người lao động.
- Phạm vi dẫn chứng: Đoạn thơ trên đề bài.
* Tìm ý
- Khái quát chung
- Vẻ đẹp của biển cả
- Niềm vui của người lao động
- Nghệ thuật khắc họa đặc sắc.
* Lập dàn ý
1. Mở bài:
– Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam
– Giữa năm 1958, ông có chuyến đi dài ngày thực tế ở Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này ông viết Đoàn thuyền đánh cá.
– Hai khổ thơ cuối, tác giả khắc họa hình ảnh tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống.
2. Thân bài:
a. Giới thiệu khái quát
- Vị trí đoạn thơ
- Nội dung đoạn thơ
b. Cảnh khẩn trương lao động kết thúc hoạt động đánh cá
- Ra đi từ lúc hoàng hôn buông xuống, sóng cài then, đêm sập cửa, vũ trụ nghĩ ngơi, nay trở về bình minh đang lên rạng rỡ. Trước hết, đó là cảnh khẩn trương, hối hả chuẩn bị cho sự trở về:
"… Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng”
- Tất cả tinh thần tranh thủ, hối hả được diễn tả qua từ "kịp” và hình ảnh "kéo xoăn tay” một hình ảnh thơ khỏe khoắn gợi tả một công việc lao động hăng say, vất vả nhưng lấp lánh niềm vui bởi thành quả lao động mà họ đạt được "chùm cá nặng”. Xoa tay đứng nhìn đầy chặt khoang những cá nhụ, cá chim, cá đé… vẫy đuôi ánh sáng bình minh lấp lánh ánh bạc.
- Tinh thần khẩn trương, hối hả của người ngư dân lúc kéo lưới “sao mờ kéo lưới kịp trời sáng”
- Sự khỏe mạnh của người lao động qua hình ảnh ẩn dụ "ta kéo xoăn tay chùm cá nặng”
- Niềm vui tươi trong lao động qua những câu thơ tả cảnh đẹp, đầy sáng tạo.
c. Cảnh đoàn thuyền buồm căng gió trở về bến:
- Công việc đánh cá kết thúc, khi mà: lưới xếp, buồm lên đón nắng hồng” ấy là lúc đoàn thuyền trở về:
"Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”
– Chi tiết "đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” và "mặt trời đội biển nhô màu mới” là chi tiết giàu ý nghĩa. Hình ảnh ”mặt trời” là hình ảnh ẩn dụ cho một tương lai xán lạn. Và con thuyền chạy đua về tương lai là con thuyền của chủ nghĩa xã hội đang trên bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội hứa hẹn thành công.
d. Nghệ thuật khắc họa đặc sắc của đoạn thơ
- Giọng thơ
- Hình ảnh thơ
- Các biện pháp tu từ
….
3. Kết bài:
– Bài "Đoàn thuyền đánh cá” là một trong những bài thơ hay của phản ánh không khí lao động hăng say, náo nức của những người lao động đánh cá trên biển trong không khí của những ngày đất nước xây dựng sau giải phóng.
– Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng độc đáo và vận dụng nhiều biện pháp tu từ thành công
Đề 6: Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động trong đoạn thơ:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăn vàng chóe.
Đêm thở: sao lùa nức Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
(Trích “Đoàn thuyền đánh cá” - Huy Cận)
- Tìm hiểu đề:
+ Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ
+ Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động
+ Phạm vi dẫn chứng: Đoạn thơ trên đề bài
- Tìm ý:
+ Giới thiệu khái quát về vị trí, nội dung đoạn thơ
+ Vẻ đẹp của thiên nhiên
+ Vẻ đẹp của con người lao động
+ Nghệ thuật đặc sắc của đoạn thơ
* Lập dàn ý
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
+ Huy Cận: nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam
+ Giữa năm 1958, ông có chuyến đi dài ngày thực tế ở Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này ông viết Đoàn thuyền đánh cá.
- Giới thiệu và cảm nhận khái quát về đoạn thơ: khắc họa thành công vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động trên vùng biển quê hương.
2. Thân bài: Phân tích ba khổ thơ để thấy vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động.
* Khái quát chung:
+ Vị trí: Nằm ở giữa bài thơ
+ Nội dung: đoạn thơ miêu tả cảnh đánh cá của những ngư dân trong đêm trăng thơ mộng đã làm nổi bật vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động trong tư thế làm chủ công việc của mình.
* Triển khai luận điểm:
- Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên:
+ Bức tranh thiên nhiên mở ra với không gian bao la, trăng sao huyền ảo, gió lộng mây bay, nổi bật là hình ảnh con thuyền hùng dũng, băng băng lướt sóng.
+ Vẻ đẹp của cảnh biển Hạ Long trong đêm trăng rực rỡ, lộng lẫy như một bức tranh sơn mài.
=> Thiên nhiên rộng lớn, kì vĩ, nên thơ, giàu có, sống động, gần gũi với con người được sáng tạo bằng liên tưởng, tưởng tượng bay bổng của tác giả.
- Vẻ đẹp của con người lao động:
+ Có tư thế, tầm vóc lớn lao, lồng lộng giữa biển khơi, làm chủ thiên nhiên và công việc: ra thăm dò bụng biển, tìm luồng cá, dàn đan thế trận, bủa lưới vây giăng.
(Thuyền ta lái gió với buồm trăng/ Lướt giữa mây cao với biển bằng/ Ra đậu dặm xa dò bụng biển/ Dàn đan thế trận lưới vây giăng)
+ Lao động vất vả song những ngư dân luôn hào hứng, vui tươi.
(Ta hát bài ca gọi cá vào/ Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao)
+ Người lao động có tình yêu, lòng biết ơn và sự gắn bó biển cả.
(Biển cho ta cá như lòng mẹ/ Nuôi lớn đời ta tự thuở nào).
=> Hình ảnh những con người lao động đã trở thành trung tâm của bức tranh được nhà thơ khắc họa bằng bút pháp giàu chất tạo hình. Đó là con người được làm chủ cuộc đời trong xã hội mới.
* Đánh giá:
+ Âm hưởng, giọng điệu trong đoạn thơ sôi nổi, khỏe khoắn, nhịp thơ biến hóa linh hoạt, các thủ pháp khoa trương, phóng đại về hình ảnh con người, vũ trụ, thủ pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…đã sáng tạo được nhiều hình ảnh thơ đẹp.
+ Sự giao thoa giữa hai nguồn cảm hứng: cảm hứng về lao động và cảm hứng thiên nhiên vũ trụ đã tạo cho đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung những hình ảnh thiên nhiên rộng lớn, tráng lệ, độc đáo thể hiện niềm say sưa hào hứng và những ước mơ bay bổng của con người muốn hòa hợp với thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên.
3. Kết bài:
- Vẻ đẹp của con người trong sự hài hòa với thiên nhiên vũ trụ đã tạo thành vẻ đẹp vừa tráng lệ vừa gần gũi, tươi vui, làm nên bức tranh đẹp về cuộc sống mới, con người lao động mới ở miền Bắc thời kì xây dựng CNXH.
- Bài thơ thể hiện phong cách thơ Huy Cận sau cách mạng: tràn đầy tình yêu thiên nhiên và cuộc sống.
(Nếu HS phân tích từng khổ và khái quát về vẻ đẹp thiên nhiên và con người vẫn cho điểm tối đa)
III. Những lỗi học sinh thường mắc
- Về hình thức trình bày: không khoa học, viết ẩu, không đảm bảo hình thức đoạn văn và bài văn.
- Về nội dung:
+ Bài tập về biện pháp tu từ không tuân theo kĩ năng làm bài.
+ Khi viết đoạn văn, bài văn còn thiếu ý luận điểm, các câu, đoạn văn chưa liên kết chặt chẽ.
III. Bài tập vận dụng
- Viết hoàn chỉnh các đoạn văn, bài văn nghị luận ở dạng 2 và dạng 3.
Ở dạng 2 và dạng 3: Khi đã định hình được dàn ý xong và tiến hành viết bài, cần lưu ý:
1. Đối với đoạn văn nghị luận xã hội:
+ Về hình thức: Viết hoa chữ cái đầu tiên của đoạn, lùi vào đầu dòng. Tùy theo yêu cầu dung lượng mỗi đề, đảm bảo không thừa không thiếu.
+ Về nội dung:
/ Phần mở đoạn và kết đoạn, các em viết thật ngắn gọn
/ Phần thân đoạn: Các câu trong đoạn phải hướng vào chủ đề, và các câu được sắp xếp theo một trình tự lo gic, hợp lí.
2. Đối bài văn nghị luận văn học
Khi đã định hình được dàn ý xong và tiến hành viết bài, cần lưu ý:
- Mở bài: đảm bảo ngắn gọn, đủ ý ( độc đáo, hấp dẫn)
- Thân bài: Trình bày mỗi luận điểm ít nhất là một đoạn văn, nên có câu chứa luận điểm, giữa các luận điểm cần liên kết chặt chẽ với nhau.
- Kết bài: đảm bảo ngắn gọn, ấn tượng và tương xứng với mở bài về dung lượng
BẾP LỬA (Bằng Việt)
I, Kiến thức cơ bản:
1. Tác giả
- Bằng Việt, tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng – sinh năm 1941, quê ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây.
- Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 60 và thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
- Hiện nay ông là chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội.
- Phong cách sáng tác : Thơ Bằng Việt mang giọng điệu thủ thỉ, tâm tình ; ngôn ngữ điềm đạm ; cấu tứ mạch lạc và hệ thống thi ảnh đặc sắc.
2. Tác phẩm
a) Hoàn cảnh sáng tác:
- Bài thơ được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành luật ở nước ngoài.
- Bài thơ được đưa vào tập Hương cây – Bếp lửa (1968), tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ.
b) Mạch cảm xúc và bố cục:
* Mạch cảm xúc: Bài thơ là lời tâm sự của người cháu hiếu thảo ở phương xa gửi về người bà.
Bài thơ được mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỷ niệm tuổi thơ sống bên bà tám năm ròng, làm hiện lên hình ảnh bà với sự chăm sóc, lo toan, vât vả và tình yêu thương trìu mến dành cho đứa cháu. Từ những kỷ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sống giản dị mà cao quý của bà. Cuối cùng, người cháu muốn gửi niềm mong nhớ về với bà. Mạch cảm xúc bài thơ đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỷ niệm đến suy ngẫm.
* Bố cục: 4 phần.
- Khổ đầu: hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng cảm xúc hồi tưởng về bà.
- 4 khổ tiếp: những kỷ niệm ấu thơ, hình ảnh bà và bếp lửa.
- Khổ 6: những suy nghĩ của tác giả về bà và hình ảnh cuộc đời bà.
- Khổ cuối: nỗi nhớ của cháu về bà và bếp lửa.
c) Giá trị nội dung và nghệ thuật:
* Nội dung: qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” gợi lại những kỷ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà cũng là đối với gia đình quê hương đất nước.
* Nghệ thuật: bài thơ đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả tự sự và bình luận. Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm tựa khơi gợi một kỷ niệm, cảm xúc, suy nghĩ về bà và tình bà cháu.
III, LUYỆN TẬP
* Về các dạng câu hỏi và đề bài
Dạng 1: Câu hỏi đọc - hiểu
- Nội dung kiến thức: Dạng câu hỏi này thường xoay quanh các đơn vị kiến thức về
+ Tác giả, tác phẩm ( hoàn cảnh sáng tác, bố cục, mạch cảm xúc , ý nghĩa nhan đề ..gợi nhớ văn bản khác cùng chủ đề)
+ Từ vựng: biện pháp tu từ, giải nghĩa từ,…
+ Ngữ pháp: Các thành phần câu, kiểu câu…
+ Nội dung đoạn thơ
…
- Cách làm:
+ Bước 1: Đọc kĩ ngữ liệu cho
+ Bước 2: Đọc các câu hỏi , gạch chân dưới các từ trọng tâm
+ Bước 3: Trả lời trực tiếp vào câu hỏi. Câu trả lời đảm bảo: chính xác đầy đủ, ngắn gọn. Riêng câu hỏi về biện pháp tu từ cần đảm bảo đúng kĩ năng làm bài tập dạng đó.
Dạng 2: Viết đoạn văn nghị luận xã hội
Từ nội dung của đoạn trích hoặc văn bản, yêu cầu viết một đoạn văn nghị luận về chủ đề liên quan xoay quanh 2 dạng bài:
- Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống.
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý
Dạng 3: Viết bài văn nghị luận văn học
- Thường là:
+ Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
+ Nghị luận về một vấn đề trong đoạn thơ, bài thơ
- Khi gặp dạng bài này cần nắm được:
+ Yêu cầu của đề: Cảm nhận, suy nghĩ, phân tích
+ Vấn đề nghị luận:
/ Nghị luận về đoạn thơ hoặc bài thơ
/ Nghị luận về một phương diện, khía cạnh : tâm trạng nhân vật trữ tình, nét nghệ thuật đặc săc…
* Bài tập minh họa
Dạng 1: Câu hỏi Đọc- hiểu
Câu 1: Cho những câu thơ sau:
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
1. Những câu thơ trên trích trong bài thơ nào? Của tác giả nào? Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ? Nêu mạch cảm xúc của bài thơ?
2. Hình ảnh ngọn lửa trong câu thơ trên được một bạn học sinh hiểu là: Một hiện tượng tạo nên ánh sáng và hơi ấm do sự đốt cháy nhiên liệu, cách hiểu ấy có đúng không? Vì sao?
3. Chỉ ra từ láy trong dòng thơ đầu. Từ láy ấy giúp em hình dung gì về hình ảnh bếp lửa mà tác giả nhắc tới? Em hãy phân tích cái hay của những từ láy tượng hình trong ba câu thơ ấy?
4. Tình cảm gia đình hòa quyện trong tình yêu quê hương đất nước là một đề tài quen thuộc được thể hiện trong bài thơ. Hãy kể tên 2 bài thơ VN hiện đại trong chương trình Ngữ Văn 9 cũng viết về đề tài ấy và ghi rõ tên tác giả.
5. Viết đoạn văn quy nạp khoảng 13 đến 15 câu cảm nhận về hình ảnh người bà trong bài thơ “Bếp lửa” sử dụng câu cảm thán?
Gợi ý:
1. Bài thơ “Bếp lửa” của tác giả Bằng Việt. Bài thơ được sáng tác 1963, khi ấy tác giả đang là sinh viên ngành luật tại Liên Xô và mới bắt dầu đến với thơ. Mạch cảm xúc: Đi từ liên tưởng đến hiện tại, từ những kỉ niệm đến suy ngẫm
2.
- Cách hiểu của bạn học sinh không đúng.
- Vì đây là ngọn lửa trong lòng bà, ngọn lửa được thắp lên từ lòng yêu thương, từ niềm tin sự sống
3.
- “Chờn vờn” : Ánh sáng ngọn lửa bếp bập bùng, lúc to lúc nhỏ gợi ta nhớ đến hình ảnh bếp lửa bình dị quen thuộc của làng quê Việt Nam trước kia.
- Ba câu thơ đầu nổi bật lên với những từ tượng hình như “ chờn vờn, ấp iu”. Từ “ chờn vờn” gợi hình ảnh một bếp lửa vừa cụ thể, hữu hình, vừa vô hình khó nắm bắt. Không phải là “ bập bùng” hay” chập chờn”. Nếu là “ bập bùng” thì thực quá, lửa mạnh quá, ngọn lửa lúc cao, lúc thấp. Nếu “ chập chờn” thì ảo quá, ngọn lửa lúc to, lúc nhỏ khó nắm bắt. Chỉ với tư “chờn vờn” là từ láy tượng hình vừa gợi được cái dáng lửa thanh mảnh uốn lượn quyện làn sương sớm vừa gợi được sắc lửa hồng. Ngọn lửa nửa thực, nửa hư. Đó chính là ngọn lửa của hồi ức. Từ “ ấp iu” gợi sự chăm chút, nâng niu, giữ gìn bếp lửa của người bà với một bàn tay khéo léo, kiên nhẫn. Tóm lại, đó là một bếp lửa trong hoài niệm vừa gợi hình vừa biểu cảm. Một bếp lửa rực lên trong tình thương mến của bà và cháu.
4. Hai bài thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn lớp 9 viết về tình cảm gia đình hoà quyện với tình yêu quê hương đất nước là:
- Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm
- Nói với con của Y Phương.
5. Đoạn văn
a. Mở đoạn
Người bà trong bài thơ “Bếp lửa” của BV luôn dành cho cháu những tình cảm lớn lao, sâu sắc.
b. Thân đoạn:
- Bà là người che chở, bao bọc, dạy dỗ, chăm sóc cho cháu trong những năm tháng tuổi thơ “Bà dạy cháu làm ... khô nhọc” Bà vừa là thầy giáo, vừa là người cha, người mẹ để chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục cháu nên người
- Hình ảnh người bà tần tảo, chắt chiu, nhen nhóm lên ngọn lửa mỗi sớm mai. Nhen nhóm ý chí, niềm tin cho cháu: “Rồi sớm ... chứa niềm tin dai dẳng”
- Bà là người đầy nghị lực, vượt qua những biến cố lớn lao trong cuộc đời, trở thành chỗ dựa vững chắc cho cháu. Mặc dù giặc đốt nhà, cái đói đeo bám quanh năm nhưng bà vẫn dặn cháu: “Mày có viết ... bình yên”
- Xảy ra nhiều biến cố nhưng bà vẫn đầy nghị lực, là tấm gương cho sự chịu thương, chịu khó, bà là hậu phương vững chắc để ba mẹ đứa cháu yên tâm chiến đấu. Điều đó thể hiện bà còn là người có tình yêu nước sâu sắc.
c. Kết đoạn:
Chao ôi, bà là người phụ nữ Việt Nam với vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại, đầy yêu thương, với tấm lòng nhân hậu, giàu đức hi sinh, với một nghị lực sống phi thường!
Câu 2: Cho câu thơ “năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi”
1. Chép lại chính xác các câu tiếp theo để hoàn chỉnh khổ thơ?
2. Lời dặn dò của người bà đối với đứa cháu trogn đoạn thơ vi phạm phương châm hội thoại nào? Vì sao người bà phải vi phạm phương châm hội thoại đó
3. Viết những câu thơ được sử dụng theo lối trực tiếp? Lời dẫn trực tiếp là gì?
4. Nội dung chính của đoạn thơ?
5. Đoạn thơ có nói tới sự tàn phá của chiến tranh. Em hãy viết 1 đoạn văn diễn dịch từ theo đề tài vừa nêu. Sử dụng khởi ngữ?
Gợi ý:
1.HS chép chính xác đoạn thơ
2, Lời dạy của bà vi phạm phương châm về chất vì:
+) Người bà không muốn cho ba mẹ đứa cháu biết về hoàn cảnh thực tế của hai bà cháu ở nhà để họ yên tâm công tác đánh giặc.
+) Qua lời bà dặn không chỉ cho thấy sự đảm đang, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ mà còn thấy tình yêu nông nàn của người bà.
3, Là những câu thơ có dấu ngoặc kép và dấu gạch đầu dòng.
4, Nội dung chính:
Đoạn thơ nói về sự tàn phá của chiến tranh qua đó làm nổi bật tinh thần đoàn kết của xóm làng và sự vượt qua khó khăn, gian khổ, cam chịu đồng thời thể hiện lòng yêu nước sâu sắc của người bà.
5. Đoạn văn
a. Mở đoạn:
Chiến tranh đã để lại cho con người tổn hại về vật chất và tinh thần.
b. Thân đoạn:
* Thực trạng:
- Chiến tranh đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng con người, chia rẽ và làm tan nát bao nhiêu gia đình. Mẹ xa con, vợ xa chồng, sự đau đớn đến tột cùng khi mỗi người phải mất đi mỗi người phải mất đi những người thân yêu chỉ vì chiến tranh. Nỗi đau đớn tinh thần là vô cùng lớn
- Nó đã tàn phá rất nhiều nhà cửa, cầu cống.
- Và nó còn đẩy lùi sự phát triển của loài người, làm ảnh hưởng giống nòi cho biết bao thế hệ sau: Đất nước ta đã trải qua hàng ngàn năm chiến tranh nhưng tiêu biểu và mới đây nhất là cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ. Đặc biệt đế quốc Mĩ đã dải hàng ngàn, hàng vạn tấn bom cướp đi hàng triệu sinh mạng, dã man và tàn ác hơn chúng còn dải chất độc màu da cam không chỉ làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người lúc đó mà còn làm ảnh hưởng đến nòi giống không biết bao nhiêu thế hệ về sau.
* Biện pháp:
- Mỗi chúng ta luôn phê phán, lên án ngăn chặn chiến tranh, tuyên truyền rộng rãi cho mọi người biết hậu quả gây chiến tranh
- Bằng những hành động thiết thực như viết bài, vẽ tranh, biểu tình ... để lên án những kẻ gây chiến tranh
- Hãy yêu hòa bình vì hòa bình sẽ mang lại nhiều lợi ích cho con người và sự phát triển của xã hội. Hòa bình sẽ mang lại cuộc sống ấm no và hạnh phúc.
* Bài học:
Là học sinh, còn ngồi trên ghế nhà trường, mỗi chúng ta cần tích cực học tập, rèn luyện đạo đức trở thành những công dân có ích, xây dựng đất nước hòa bình, nông dân ấm no, hạnh phúc.
c. Kết đoạn:
Tóm lại, chiến tranh đã để lại những hậu quả khôn lường cho cuộc sống mỗi con người.
Câu 3:
Cho câu thơ sau:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa”
a. Hãy chép chính xác 7 câu thơ tiếp theo
b. Đoạn thơ vừa chép có trong tác phẩm nào? Của ai?
c. Từ “ nhóm” trong đoạn thơ có những nghĩa nào?
d. Phân tích tác dụng của phép tu từ điệp ngữ trong đoạn thơ trên.
Hướng dẫn
a. HS chép lại theo trí nhớ
b. Bếp lửa - BằngViệt
c. Nghĩa của từ “ nhóm”:
- Nghĩa gốc: Hoạt động làm cho lửa và chất đốt bén vào nhau và cháy lên
- Nghĩa chuyển: Khơi dậy, gợi lên trong tâm hồn con người những tình cảm tốt đẹp.
d.
- Đoạn thơ sử dụng rất thành công biện pháp tu từ điệp ngữ
- Từ “ nhóm” lặp đi lặp lại nhiều lần trong đoạn
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh, làm toả sáng hơn nét “kì lạ” và thiêng liêng bếp lửa.
+ Bếp lửa của tình bà đã nhóm lên trong lòng cháu bao điều thiêng liêng, kì lạ. Từ “nhóm” đứng đầu mỗi dòng thơ mang nhiều ý nghĩa: khơi dậy tình cảm nồng ấm, khơi dậy tình yêu thương, tình làng nghĩa xóm, quê hương, khơi dậy những kỉ niệm tuổi thơ.
- Tác giả: Bằng biện pháp tu từ trên tác giả ca ngợi người, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với bà.
+ Phép điệp ngữ khẳng định bà là cội nguồn của niềm vui, của ngọt bùi nồng đượm, là khởi nguồn của những tâm tình tuổi nhỏ.Đó là bếp lửa của lòng nhân ái, chia sẻ niềm vui chung.
C) DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Đề bài 1: Từ bài thơ “ Bếp lửa” và bằng những hiểu biết của em, viết đoạn văn nêu suy nghĩ về tình yêu quê hương, đất nước của thế hệ trẻ trong thời đại hiện nay?
a. Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý
- Vấn đề nghị luận: Tình yêu quê hương đất nước
- Phạm vi dẫn chứng: Hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học
- Hình thức trình bày: Đoạn văn
b. Tìm ý
- Giải thích khái niệm
- Nhận xét, đánh giá
- Mở rộng
- Bài học nhận thức
* Lập dàn ý
1. Mở đoạn
Trong sâu thẳm trái tim mỗi người, chắc hẳn đều có một nơi dành cho quê hương đất nước như một nhà thơ đã từng thốt lên:
2. Thân đoạn
a. Giải thích
- Thật khó để định nghĩa một cách rõ ràng về tình yêu quê hương đất nước. Nó chính là tình yêu, sự trân trọng, nâng niu, yêu mến và sẵn sàng hi sinh cho quê hương- nơi chôn rau cắt rốn của mỗi người, cho tổ quốc- lãnh thổ thiêng liêng mang hai tiếng Việt Nam. Đây là một tình cảm nhân văn, cao đẹp, luôn thường trực ở mỗi người dù già hay trẻ, dù gái hay trai.
b. Ý nghĩa
- Đã bao giờ bạn tự hỏi, cuộc sống hòa bình và đáng sống này ai đem lại cho bạn? Đó là những giọt mồ hôi của ông cha từ buổi khai phá, là biết bao nhiêu giọt máu của nhiều thế hệ đổ xuống để bảo vệ lãnh thổ bờ cõi. Nên ta yêu hơn cả từng con người, từng mảnh đất, từng nhành cây ngọn cỏ trên khắp đất nước.
- Nơi ta đã gắn bó từ ngày ấu thơ đến khi trưởng thành và mãi mãi về sau, nơi yêu thương và hạnh phúc luôn đong đầy thì tại sao ta lại không yêu, không quý, không trân trọng và nâng niu cho được?
- Tình yêu quê hương đất nước không phải thứ tình cảm to lớn hay xa xôi gì. Nó bắt nguồn từ tình yêu những điều nhỏ bé, bình dị nhất. Tình yêu nhà, yêu mỗi con sông quê hương, yêu những con người chân chất thật thà, yêu gia đình trở nên tình yêu đất nước. Khi bờ cõi đất nước đứng trước sự lâm nguy, những thế hệ thanh niên nhiệt tình đã sẵn sàng lên đường bảo vệ tổ quốc, những cô thanh niên xung phong sẵn sàng vào mặt trận. Đó là hình ảnh của chú bé Lượm, mẹ Tơm, mẹ Suốt, bà Bầm bà Ủ.... Trong thời bình thì tình yêu quê hương đất nước lại ở sự phấn đấu nỗ lực để cống hiến cho sự phát triển của đất nước. Tình yêu ấy không còn là những định nghĩa trừu tượng mà còn thể hiện bằng những hành động thiết thực. Đó là nỗi nhớ quê da diết mỗi khi xa nhà, luôn móng ngóng về quê hương và chờ đợi đến ngày được trở về. Khi đất nước phát triển, họ cùng góp một chút sức lực nhỏ để đầu tư cho sự phát triển của đất nước. Lòng yêu nước yêu quê hương của họ thật đáng quý biết bao.
- Tình yêu quê hương gắn liền với tình yêu tổ quốc. Đó là thứ tình cảm vừa giản dị, chân thành song lại thiêng liêng cao đẹp biết bao. Mỗi giai cấp, mỗi thế hệ, mỗi con người lại có những biểu hiện khác nhau để yêu nơi ta đã cất tiếng khóc chào đời, nới rộng mở cánh tay đón chào ta. Các nhà thơ yêu quê bằng những vần thơ ngọt ngào, tha thiết ngợi ca cảnh sắc quê hương đất nước. Anh kĩ sư yêu đất nước bằng những đêm thức trắng vẽ nên những bản công trình, đưa đất nước dần hội nhập cùng thế giới. Các bạn học sinh yêu quê hương mình bằng cách nỗ lực, chăm chỉ không ngừng học tập để đưa đất nước "sánh vai với các cường quốc trên thế giới".
c. Mở rộng
- Bên cạnh những hành động đẹp, những tấm gương sáng như vậy thì vẫn còn không ít người ngày càng xa lánh và rời bỏ quê hương. Thậm chí họ còn tìm cách chống phá nhà nước, đưa ra các luận điệu sai trái về chính quyền ta. Đôi khi, họ sống quá thực dụng và vụ lợi. Sẵn sàng lừa dối những người xung quanh mình, tàn phá thiên nhiên và hủy hoại môi trường. Nhiều kẻ bất nhân còn chà đạp lên quyền sống, bán rẻ lương tâm để hãm hại người khác một cách dã man. Những hành động như vậy đáng bị lên án và trừng trị.
d. Bài học nhận thức
- Yêu tiếng mẹ đẻ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt và lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Hãy là người yêu nước bằng một trái tim nóng và cái đầu lạnh.
3. Kết đoạn
Trong bối cảnh hiện đại, yêu quê hương đất nước còn gắn với việc bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa cổ truyền.
Đề bài 2: Từ ý nghĩa của bài thơ “Bếp lửa” cùng với những kiến thức xã hội em có, hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về vai trò của tình cảm gia đình đối với mỗi con người. .
a. Tìm hiểu đề
- Kiểu bài: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý
- Vấn đề nghị luận: Vai trò của tình cảm gia đình
- Phạm vi dẫn chứng: Hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học
- Hình thức trình bày: Đoạn văn
b. Tìm ý
- Giải thích khái niệm
- Nhận xét, đánh giá
- Mở rộng
- Bài học nhận thức
* Lập dàn ý
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Gia đình luôn có vai trò quan trong trong cuộc đời mỗi con người.
2. Thân đoạn:
- Giải thích: Gia đình là khái niệm chỉ những người cùng chung sống dưới một mái nhà, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống, thường gồm có ông bà, cha mẹ, con cái và cháu chắt.
- Bàn luận: Vì sao gia đình có vai trò quan trọng đối với mỗi con người?
+ Gia đình là nơi ta sinh ra trong sự đón chờ của ông bà, cha mẹ, ang chị; nơi ta lớn lên mỗi ngày trong tình yêu thương, sự quan tâm, che chở.
+ Gia đình với nếp nghĩ, nếp sống riêng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới tính cách, suy nghĩ, ứng xử và sự phát triển của mỗi người. Không có sự chăm lo, giáo dục của gia đình là một điều kiện thiệt thòi lớn về tinh thần, cũng có thể dẫn tới sự thiếu hụt, lệch lạc trong phát triển nhân cách con người.
+ Gia đình là nơi chan chứa tình yêu thương, cho ta sức mạnh tinh thần quí giá để đứng vững giữa cuộc đời; cũng là nơi sẵn sàng đón lấy ta, cho ta trở về sau những thăng trầm, vấp ngã bên ngoài cuộc đời rộng lớn.
+ Ta có thể có nhiều bạn bè nhưng gia đình chỉ có một mà thôi.
( Lấy dẫn chứng để làm rõ)
- Đánh giá, mở rộng vấn đề:
+ Gia đình là tài sản quí giá của mỗi người, có vai trò và ý nghĩa to lớn trong cuộc sống mỗi người.
+ Phê phán những kẻ bất hiếu, coi nhẹ gia đình.
- Bài học:
+ Cần trân trọng , biết ơn, xây dựng, gìn giữ hạnh phúc gia đình.
+ Liên hệ bản thân với tư cách là một người con , người cháu trong gia đình.
3. Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề.
Đề bài 3: Viết đoạn văn khoảng 13- 15 câu nêu suy nghĩ về lòng hiếu thảo được gợi ra từ bài thơ?
* Tìm hiểu đề:
- Kiểu bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạp lý
- Vấn đề nghị luận: Lòng hiếu thảo
- Phạm vi dẫn chứng: Thực tế cuộc sống và trong văn học
* Tìm ý
- Giải thích khái niệm: Lòng hiếu thảo là gì
- Nhận xét, đánh giá
- Mở rộng
- Bài học nhận thức
* Dàn ý
1. Mở đoạn
Hiếu thảo với ông bà, cha mẹ vốn là truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta và là phẩm chất cần có trong mỗi con người.
2. Thân đoạn
Hiếu là hiếu nghĩa, biết ơn người sinh thành dưỡng dục mình, biết cung kính bề trên. Thảo là mở rộng tấm lòng của mình, là chia ngọt sẻ bùi. Tóm lại lòng hiếu thảo là sự biết ơn, tôn trọng và đáp đền cha mẹ, ông bà, người có công sinh thành hoặc dưỡng dục mình.
Trong thời kì phong kiến, lòng hiếu thảo đóng vai trò trung tâm của đạo đức Nho giáo. Lòng hiếu thảo được biểu hiện phong phú trong cuộc sống hằng ngày. Nó không chỉ được thể hiện trong thái độ tình cảm mà còn qua hành động, việc làm cụ thể. Người có lòng hiếu thảo là người luôn biết cung kính, lễ phép, biết vâng lời và làm cho cha mẹ, ông bà luôn được vui vẻ, thoải mái về tinh thần. Lúc cha mẹ khỏe mạnh, con cái hiếu thuận, vâng lời, lắng nghe dạy bảo. Lúc cha mẹ già yếu hết lòng chăm sóc phụng dưỡng. Khi cha mẹ qua đời phụng thờ chu đáo. Trong thực tế cuộc sống chúng ta đã có nhiều người con hiếu thảo trở thành tấm gương để người đời sau noi theo. “Hiếu tử truyện” có ghi lại những tấm gương hiếu thuận đáng để noi theo. Đó là một người con nhà nghèo, mùa đông, nằm ủ ấm chiếc giường rồi mời cha mẹ lên, mùa hè thức đêm để quạt cho cha mẹ ngủ. Đó là lão Lai Tử, tuổi đã già những vẫn diễn hài mua vui cho cha mẹ. Cũng có những người con như Nguyễn Trãi vì hiếu thảo mà dằn lòng, gạt dòng nước mắt, từ biệt cha già Nguyễn Phi Khanh để trở về nuôi giấc mộng như lời cha dặn “Hãy rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, như thế mới là đạo hiếu”. Còn bao nhiêu người con đã vâng lời, hiếu thuận với ông bà, cha mẹ trở thành người có ích làm rạng danh cha mẹ, tổ tiên.
Chúng ta sống hiếu thảo với ông bà, cha mẹ bởi ai cũng có cội nguồn, thân tộc. Ông bà cha mẹ là người đã sinh ra ta, nuôi dưỡng ta khôn lớn, dành cho ta những gì tốt đẹp nhất một cách vô điều kiện. Hơn nữa con cái sống hiếu thảo thì gia đình sẽ giữ được hòa khí, trên kính dưới nhường gia đình hòa thuận, yên vui, hạnh phúc là động lực để chúng ta học tập và làm việc. Lòng hiếu thảo đã gắn kết các thành viên trong gia đình. Sống hiếu thảo góp phần hoàn thiện vẻ đẹp nhân cách của mỗi con người. Người sống hiếu thảo luôn được người khác trân trọng, yêu mến và dễ thành công trong cuộc sống bởi giá trị của con người không phải được nhìn nhận bằng sự giàu sang, quyền quý mà nó được thể hiện bằng nhiều yếu tố tinh thần đep đẽ trong đó nền tảng là chữ “hiếu”.
Mặc dù vậy không phải ai cũng thấm thía ý nghĩa của chữ Hiếu trong đạo làm người. Họ sống lỗi đạo, bất hiếu, vô lễ, thậm chí bỏ bê hoặc hành hạ đánh đập cha mẹ, ông bà. Những “con sâu làm rầu nồi canh” ấy là biểu hiện của lối sống vô ơn, nhân cách kém cỏi và bị xã hội lên án mạnh mẽ.
Là học sinh - thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước phải lấy chữ hiếu làm đầu, kính trọng lễ phép, lắng nghe ông bà, cha mẹ dạy bảo, phấn đấu trong học tập và rèn luyện, trở thành người tốt để ông bà, cha mẹ được vui lòng. Đó là cách để đền đáp phần nào công ơn của người đi trước.
3. Kết đoạn
Lòng hiếu thảo thể hiện lối sống trọng tình nghĩa, là nét đẹp cao quý của văn hóa Việt Nam. Vì thế mỗi chúng ta cần nhớ làm lòng “Tội lớn nhất của đời người là bất hiếu”.
Đề bài 4: Viết đoạn văn khoảng 200 từ suy nghĩ về ý nghĩa của những kí ức tuổi thơ trong cuộc đời mỗi con người.
* Tìm hiểu đề:
- Kiểu bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
- Vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của những kí ức tuổi thơ
- Phạm vi dẫn chứng: Thực tế cuộc sống và trong văn học
* Tìm ý
- Giải thích khái niệm
- Nhận xét, đánh giá
- Mở rộng
- Bài học nhận thức
*Lập dàn ý:
I. Mở bài:
Từ bài thơ đầy xúc động – “Bếp lửa” của nhà thơ Bằng Việt, thêm một lần chúng ta nhận ra ý nghĩa quan trọng của những kí ức tuổi thơ trong cuộc đời mỗi con người.
II. Thân bài:
1. Giải thích:
Kí ức tuổi thơ là gì?
Kí ức là những hình ảnh, sự việc đã qua được trí nhớ ghi lại. Vậy kí ức tuổi thơ được hiểu là những kỉ niệm sâu sắc mà ta nhớ mãi về thuở thiếu thời, khi ta còn nhỏ.
2. Bàn về vai trò của kí ức tuổi thơ:
Tuổi thơ là nền tảng quyết định tương lai của mỗi con người do vậy kí ức cũng góp phần quan trọng vào việc xây dựng tương lai của chúng ta bởi nó chính là một phần không thể thiếu của nền tảng đầu tiên trong cuộc đời.
Phần lớn kí ức tuổi thơ của mỗi người thường là tươi đẹp. Bởi tuổi thơ như hạt sương tinh khôi trong nắng mai. Đó là tuổi hồn nhiên chẳng có so đo tính đếm lợi ích cá nhân, chẳng có được mất, sẵn sàng hết mình giúp bè bạn. Phải chăng vì thế mà khi chúng ta lớn lên ai cũng mong ước có cho mình một chiếc vé về tuổi thơ. Hơn nữa, tuổi thơ là giai đoạn đứa trẻ được gia đình, nhà trường và xã hội chăm lo, bao bọc trong tình yêu thương. Chúng không vướng bận gì cả, chúng chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là cố gắng trong học tập, rèn luyện. Vì thế nhân cách và phẩm chất của mỗi đứa trẻ khi trưởng thành phản ánh môi trường mà chúng ta sinh ra và lớn lên.
Kí ức tuổi thơ là một phần đẹp đẽ nhất trong cuộc đời mỗi con người. Dù vui hay buồn thì mỗi lần nhớ về nó, mọi người đều có một cảm xúc thật khó tả. Nó khiến ta thêm gắn bó với gia đình, quê hương, nguồn cội. Nó là một phần điểm tựa tinh thần tạo ra sức mạnh để ta vượt qua những khó khăn, vấp ngã trên đường đời muôn nẻo.
3. Mở rộng:
Như đã nói kí ức tuổi thơ có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của mỗi người khi lớn lên. Một tuổi thơ hạnh phúc hay không là nền tảng quyết định con người chúng ta sẽ trở thành. Vậy mà đâu đó trong cuộc sống này vẫn có những đứa trẻ phải lớn lên với những đứa trẻ phải lớn lên với những kí ức không hề đẹp đẽ. Chúng có thể vượt qua được để một sống một cuộc đời có ích hoặc không.
4. Bài học nhận thức
- Mỗi người cần trân trọng kí ức tuổi thơ
- Là học sinh, sống trong thời thơ ấu, mỗi chúng ta cần cố gắng học tập, rèn luyện để tạo ra những kí ức tốt đẹp.
III. Kết bài:
- Mong sao mọi trẻ em trên thế giới đều có một tuổi thơ hạnh phúc.
DẠNG 3: VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Đề 1: Cảm nhận ủa em về tình bà cháu qua bài thơ “ Bếp lửa” của Bằng Việt.
* Tìm hiểu đề:
- Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ
- Vấn đề nghị luận: Tình bà cháu
- Phạm vi dẫn chứng: Bài thơ “ Bếp lửa”
* Tìm ý
- Giới thiệu khái quát chung
- Tình bà cháu qua hình ảnh bếp lửa khơi nguồn dòng hổi tưởng
- Tình bà cháu qua những kỉ niệm tuổi thơ
- Tình bà cháu qua những suy ngẫm sâu sắc về bà và bếp lửa
- Tình bà cháu qua nỗi nhớ của cháu ở nơi xa
- Nghệ thuật đặc sắc
* Lập dàn ý:
I. Mở bài
- Bằng Việt thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ Bằng Việt trong trẻo mượt mà, cảm xúc tinh tế, giọng điệu tâm tình giàu suy tư triết lí.
- Bếp lửa là một trong những bài thơ đặc sắc của Bằng Việt được sáng tác năm 1963 khi tác giả đang học ngành luật ở Ucraina ( Liên Xô).
- Bài thơ ca ngợi tình cảm bà cháu thiêng liêng sâu sắc, thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà.
II. Thân bài
Khái quát chung…
Luận điểm 1: Trước hết tình bà cháu trong bài thơ được khơi nguồn từ hình ảnh bếp lửa:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Trong đoạn chỉ có ba câu nhưng cụm từ “ một bếp lửa” được nhắc lại tới hai lần trở thành điệp khúc của đoạn thơ, cũng là điệp khúc tâm trạng của người cháu nơi phương xa. Người cháu nhớ về quê hương là nhớ về bếp lửa nơi đó có người bà yêu thương. Hình ảnh “ bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh quá đỗi quen thuộc trong mỗi gia đình Việt Nam từ bao đời nay. Hình ảnh “ “ một bếp lửa ấp iu nồng đượm” không chỉ diễn tả chính xác với công việc nhóm lửa mà còn gợi ra đôi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo che chắn nâng niu và tấm lòng chi chút của người bà. Từ đó hình ảnh người bà tràn ngập vào trong lòng cháu với bao tình cảm nhớ thương: “ Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”.
Luận điểm 2: Tình bà cháu trong bài thơ còn được thể hiện trong dòng chảy dạt dào của kí ức về những năm tháng tuổi thơ được sống bên bà. Trước hết là kỉ niệm sâu sắc không thể nào quên về bếp lửa và người bà hiện lên trong tuổi ấu thơ có nhiều gian khổ thiếu thốn nhọc nhằn:
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”
Đoạn thơ gợi lại một tuổi thơ nhọc nhằn gian khó. Hình ảnh những năm tháng chiến tranh chống Pháp gian khổ được hiện về qua thành ngữ “ đói mòn đói mỏi”. Cái đói kéo dài làm mệt mỏi, kiệt sức qua hình ảnh con ngựa gầy rạc và người bố đi đánh xe chắc cũng gầy khô. Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945. Một tuổi thơ bần hàn cay cực thiếu thốn trăm bề. Cháu ở nhà cùng bà, cha mẹ lo đi chật vật kiếm ăn, duy trì sự sống và để tiếp tục chiến đấu. Ngay cả lúc nhóm bếp cháu vẫn ngồi trong lòng bà. Dường như mùi khói bếp đã trở nên quen thuộc đối với cháu. . Mùi khói từ tuổi thơ ấu vẫn còn nguyên vẹn trong kí ức chẳng thể phai mờ. Mùi khói từ tuổi thơ ấu vẫn còn nguyên vẹn trong kí ức chẳng thể phai mờ đến tận bây giờ.
Không những vậy tình bà cháu còn được thể hiện vô cùng cảm động và yêu thương trong suốt 8 năm thời thơ ấu. Đó chính là những ngày cơ cực nhất ở Huế, những ngày bố mẹ đều đi công tác xa bận không về, chỉ còn lại hai bà cháu, cháu bên bà và bên bếp lửa:
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Nếu như ở khổ thơ trước hình ảnh thơ có sức ám ảnh nhất đến người đọc chính là mùi khói thì ở khổ thơ này hình ảnh có ý nghĩa lan tỏa trong tâm hồn người cháu chính là tiếng chim tu hú. Đó là âm thanh quen thuộc của những cánh đồng quê mỗi độ vào hè. Âm thanh trong trẻo, thiết tha khắc khoải của tuổi thơ như vọng về hiện tại khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong: nhớ bà, nhớ quê da diết.
Đặc biệt người cháu nhớ về những kỉ niệm bên bà được bà dạy bảo chăm chút:
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Trong kí ức của người cháu, những câu chuyện bà kể vẫn còn nguyên vẹn. Tuổi thơ của cháu được bà dạy bảo biết bao điều . bà làm nhiệm vụ của một người bà, người cha, người mẹ chăm lo cho cháu từng bữa ăn giấc ngủ dạy cháu học hành. Mỗi lần nhóm lửa là mỗi lần bà khó nhọc, bao nhiêu năm tháng là bấy nhiêu vất vả đắng cay. Bà đúng là người phụ nữ chịu thương chịu khó hết lòng chăm lo cho cháu lên người. Bố mẹ đi xa nhưng cháu vẫn thật hạnh phúc khi được sống trong vòng tay yêu thương của bà.
Trong những năm tháng chiến tranh tình bà cháu vẫn vững vàng vượt lên đau thương và đổ nát:
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đàn bà dựng lại túp lều tranh
“Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”.
Nhà bị giặc đốt, được sự đỡ đần của hàng xóm, bà dựng lại được túo lều tranh để ở. Đau khổ thế nào bà vẫn cứng rắn dắt cháu vượt qua. Lời căn dặn của bà với cháu thật nôm na giản dị nhưng chất chứa bao ân tình. Gian khổ thiếu thốn bao nỗi nhớ thương con, bà phải nén vào trong lòng để con trai yên tâm công tác nơi tiền tuyến. bà quả là người phụ nữ nhân hậu giàu tình yêu thương và đức hi sinh. Như thế hình ảnh bà không chỉ là người bà của riêng cháu mà còn là một biểu tượng rõ nét cho những người phụ nữ Việt Nam yêu nước chịu thương chịu khó.
Từ hình ảnh bếp lửa, bài thơ đã đi đến hình ảnh ngọn lửa:
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
“Lửa rơm thì nấu chín thức ăn, sưởi ấm chỗ ở còn “ngọn lửa lòng bà” thì soi sáng trí tuệ, sưởi ấm tâm hồn. Tới đây hình ảnh “ngọn lửa” mang ý nghĩa khái quát hơn, rộng lớn hơn. Đó là “ngọn lửa” của tình thương “luôn ủ sẵn”, ngọn lửa của niềm tin “dai dẳng”. Hình ảnh ngọn lửa là những kỉ niệm ấm lòng, niềm tin thiêng liêng, kì diệu nâng bước cháu trên suốt chặng đường dài. Vững lòng tin vào tương lai cuộc kháng chiến của dân tộc, bà kiên trì nhóm lửa và giữ cho ngọn lửa tình yêu , ngọn lửa niềm tin luốn ấm nóng, tỏa sáng. Cho nên ngọn lửa là sức sống, lòng yêu thương, niềm tin mà bà truyền cho cháu.Như thế bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là truyền lửa - Ngọn lửa của sự sống niềm tin cho cháu và các thế hệ nối tiếp.
3. Luận điểm 3: Từ những hoài niệm về tuổi thơ và bà , người cháu suy ngẫm về cuộc đời, về những lẽ sống của bà. Và tình bà cháu lại càng ấm áp hơn bên bếp lửa:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Người cháu cảm nhận được cuộc đời bà chịu lận đận trải qua bao vất vả đắng cay, thức khuya dậy sớm vì bát cơm manh áo cho con cháu trong gia đình. Bà đã nhóm bếp lửa trong suốt cả cuộc đời. Không chỉ nhóm bằng đôi bàn tay kiên nhẫn, bằng những nhiên liệu bên ngoài mà còn bằng tấm lòng đôn hậu ấp iu đối với cháu. Điệp từ nhóm nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong đoạn thơ có tác dụng nhấn mạnh tấm lòng yêu thương của bà dành cho cháu. Bà nuôi cháu bằng vị ngọt bùi của khoai sắn, hương thơm của nồi xôi gạo mới. Bà còn nhen nhóm nuôi dưỡng trong lòng cháu bao ước mơ hoài bão. Nghĩ về bà, nghĩ về bếp lửa, cảm xúc của người cháu dồn nén trào dâng: “ Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa”.Từ cảm thán “ôi” tạo nên giọng điệu thiết tha thể hiện niềm xúc động chân thành và nồng hậu.Bếp lửa của bà kì lạ vì sức sống mãnh liệt bền bỉ. Nó luôn cháy lên và tỏa sáng bất chấp mọi hoàn cảnh tối tăm, lầm than hay khốc liệt. Bếp lửa của bà thiêng liêng bởi đó là nơi bà nhóm dậy sự sống, niềm vui, nơi ấp ủ tình yêu thương nồng đượm, nơi thổi bùng lên những khát vọng đẹp đẽ trong tâm hồn người cháu. Bếp lửa và hình ảnh người bà thân yêu đã trở thành một mảnh tâm hồn một phần kí ức không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cháu thì chẳng kì lạ và thiêng liêng lắm sao!
Luận điểm 4: Tình bà cháu còn được thể hiện ở khổ cuối bài thơ trong nỗi nhớ thiết tha của cháu nơi phương trời xa cách:
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa
Đứa cháu năm xưa nay đã trưởng thành đang sống lại nước Ucrai-na ( Liên bang Nga), đó là một đất nước hiện đại tiên tiến với những bếp điện và bếp ga, nhưng cháu vẫn không thể nguôi quên. Ngọn lửa ấy đã trở thành kỉ niệm ấm lòng, là niềm tin thiêng liêng kì diệu nâng bước người cháu suôt chặng đường dài. Dù xa xôi người cháu vẫn đau đáu hướng về bà, hướng về quê hương với nỗi nhớ da diết trào. Câu hỏi tu từ cuối dòng thơ “ Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa” đi liền với dấu chấm lửng vừa bộc lộ bao cảm xúc của cháu vừa gợi cho người đọc nhiều liên tưởng và suy ngẫm. Cháu làm sao có thể quên được việc bà nhóm lửa mỗi sớm mai, làm sao có thể quên được tuổi thơ nghèo khó mà ấm áp tình bà cháu, làm sao có thể quên hình ảnh nguời bà với bao lo toan, lận đận và tấm lòng tận tụy hi sinh. Từ lời tự nhủ chính mình tác giả như nhắn nhủ với mọi người đừng bao giờ lãng quên cội nguồn quá khứ, quê hương.
4. Nghệ thuật đặc sắc
Tình bà cháu trong bài thơ được khắc họa nhờ những yếu tố nghệ thuật đặc sắc. Tác giả đã thành công trong việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa các yêu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự và bình luận góp phần thể hiện sâu sắc tình bà cháu. Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa vừa gần gũi chân thực vừa giàu ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng, luôn gắn liền với hình ảnh người bà làm điểm tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc.Từ một hình ảnh cụ thể của đời thường bình dị, tác giả đã mở ra nhiều liên tưởng, nêu lên nhiều vấn đề có ý nghĩa sâu xa. Giọng thơ tâm tình sâu lắng cũng rất phù hợp với dòng hồi tưởng và suy ngẫm. Kết cấu theo thể thơ tám chữ phù hợp với giọng điệu cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm.
“ Bếp lửa” là một bài thơ hay đặc sắc của Bằng Việt viết về tình bà cháu. Hơn nửa thế kỉ đã trôi qua nhưng bài thơ vẫn có sức sống mãnh liệt bền bỉ, vẫn nguyên vẹn trong tâm trí người đọc về hình ảnh người bà vất vả lam lũ mà nhân hậu giàu đức hi sinh cao cả cũng như tình yêu thương bà thiết tha cháy bỏng của cháu với bà. Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình quê hương đất nước
Đề 2: Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài thơ Bếp lửa - Bằng Việt?
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữu thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa !”
( Trích “ Bếp lửa ” - Bằng Việt)
Gợi ý
* Tìm hiểu đề:
- Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ
- Vấn đề nghị luận: Suy ngâm sẫu sắc của cháu về bà, về bếp lửa
- Phạm vi dẫn chứng: Đoạn thơ trên đề bài
* Tìm ý
- Giới thiệu khái quát chung
- Suy ngẫm về người bà
- Suy ngẫm về bếp lửa
- Nghệ thuật đặc sắc
* Lập dàn ý:
A/ Mở bài:
- Bằng Việt là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ của dân tộc. Thơ của ông thường hấp dẫn người đọc bởi những cảm xúc trong sang , chân thành và lối viết giản dị tự nhiên.
- Bài thơ “Bếp lửa” là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ đó của ông. Bài thơ sang tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên chuyên ngành luật ở Nga. TP đã làm lay động người đọc bởi những ký ức tuổi thơ nhọc nhằn gian khó bên người bà hiền hậu, tần tảo, bởi tình bà cháu thắm thiết, sâu nặng thiêng liêng…
- Đoạn trích thuộc khổ 6-khổ thơ gần cuối của bài, bộc lộ những suy ngẫm của người cháu về bà.
B/ Thân bài:
1. Khái quát: Bài thơ có nhan đề “Bếp lửa”- một hình ảnh rất đỗi quen thuộc trong đời sống con người Việt Nam. Song với riêng nhà thơ bếp lửa luôn là hình ảnh của bà và những tuổi thơ khó nhọc. Năm khổ đầu của bài thơ là những kỷ niệm như thế, hiện lên qua dòng hồi tưởng của nhà thơ, để đến khổ 6 chúng ta được lắng nghe những suy ngẫm về bà với đầy tình yêu thương và long biết ơn sâu nặng.
2. Những suy ngẫm về bà.
- Bà là người phụ nữ tần tảo nhẫn nại, giàu tình yêu thương và đức hi sinh:
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
……………………………………
Nhóm bếp lửa ấm iu nồng đượm...
Những kỷ niệm tuổi thơ lắng dần. Nếu những khổ thơ đầu là cảm xúc nhớ thương của đứa cháu nhỏ đối với bà thì đến đây, nó đã chuyển sang những suy nghĩ sâu sắc về bà. Từ láy “ lận đận” đặt ở đầu câu cùng biện pháp đảo ngữ gợi lên bao nhọc nhằn, khó khăn và gian truân mà bà đã phải trải qua. Thói quen của bà in hình vào bếp lửa sớm hôm tần tảo để lo cho con, cho cháu. Bà sống âm thầm mà giàu đức hy sinh. Viết được thơ hay như thế, tác giả phải là người cháu có tấm lòng thơm thảo, thấu hiểu và hàm ơn công lao của bà. Nếu có một bếp lửa quê nhà vẫn “ chờn vờn sương sớm” thì cũng có một ngọn lửa tình bà “ ấp iu nồng đượm”. Có lúc hai thứ lửa cùng tách ra, có khi lại hợp cùng nhau. Khi tách ra nó gợi về những kỷ niệm : kỷ niệm về bếp lửa củi rơm,( khói hun nhèm mắt cháu, sống mũi còn cay), kỷ niệm về bếp lửa tình bà. Nhưng khi đã hòa hợp với nhau nó trở thành một thứ tình cảm lạ kỳ. Sống mũi còn cay là cảm giác thực của ngày xưa ngồi bên cạnh bếp lửa bến bà và vẫn là cảm xúc thực hôm nay...
Điệp từ “ nhóm” được nhắc lại 4 lần trong đoạn thơ mang cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, gợi lại hình ảnh, cảm xúc hiện dần tỏa sáng dần dần. Ngoài gợi tả sự khéo léo làm cho lửa và chất đốt bén vào nhau, cháy lên, từ “ nhóm” còn gợi sự chi chút của tấm lòng người bà. Như một nốt nhấn trong dòng cảm xúc, nó làm vỡ òa ra bao ý nghĩa, bao hồi tưởng. Bà nhóm ngọn lửa ấm áp của đời sống vật chất và thường nhật trong không gian gia đình ấm cúng. Bà nhóm lửa của “ niềm yêu thương”, của “ nồi xôi gạo mới”, của tình đoàn kết, nghĩa xóm làng.Bà mở rộng tấm lòng nhóm lên ngọn lửa của tình yêu quê hương, đất nước. Ngôn ngữ tuy giản đơn nhưng nó lại gợi ra một điều sâu sắc rằng: Bếp lửa được bà nhen lên không chỉ bằng nguyên liệu bên ngoài mà còn là từ ngọn lửa trong lòng bà - ngọn lửa của sự sống, lòng yêu thương và niềm tin. Vì thế, bà mới có thể “ nhóm dậy” , khơi dậy ký ức tuổi thơ ngọt ngào nơi người cháu. Bà đã thức tỉnh tâm hồn và sức sống thanh xuân thời thơ ấu để đứa cháu khôn lớn nên người. Bà nhóm ngọn lửa tâm hồn, nhóm lửa cuộc đời để cho cháu sức mạnh trưởng thành. Hình ảnh bà vụt tỏa sáng, lung linh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam bên bếp lửa mang đậm bản sắc văn hóa Việt, để cháu phải thốt lên rằng:
“Ôi, kỳ lạ thiêng liêng bếp lửa!”
3. Suy ngẫm về bếp lửa
“Ôi, kỳ lạ thiêng liêng bếp lửa!”Câu cảm tác giả sử dụng giúp bộc lộ một cảm xúc trào dâng mãnh liệt đến tận cùng. Cảm xúc trong trái tim tác giả dường như vỡ òa, không thể kìm nén. Từ ngữ được dùng hết sức biểu cảm, từ Bếp lửa được đặt ở cuối câu tạo nên một ấn tượng mạnh, gợi lên bao cảm xúc trong tâm hồn người đọc. “ Kỳ lạ và thiêng liêng” là những từ giàu ý nghĩa biểu tượng và đặc sắc. Bếp lửa “ kì lạ” vì không có gì có thể dập tắt được, nó cháy lên trong mọi hoàn cảnh, luôn sưởi ấm và tỏa sáng bất diệt. Và đặc biệt bếp lửa bé nhỏ đơn sơ như vậy nhưng ánh sáng của nó lại có thể soi đường , thắp sáng, nuôi dưỡng những ước mơ cao đẹp cho cháu.
Bếp lửa “ thiêng liêng”, vì nơi ấy ấp ủ và sáng lên mãi tình cảm bà cháu, là bếp lửa của lòng bà, của tình yêu mà bà luôn giữ trọn , gửi trọn cho cháu., cho quê hương và cho đất nước. Đó là bếp lửa hội tụ tất cả những gì đẹp đẽ nhất , là tình bà ấm nồng , tình đất nước , không khí thời đại và văn hóa dân tộc.
=> Tình cảm của cháu: Nhớ về bà là nhớ về bếp lửa, là nhớ về tình yêu quê hương đất nước, đó là tình yêu quê hương, yêu đất nước nồng nàn của tác giả và cũng là vẻ đẹp nhân văn của tác phẩm. Trong đoạn thơ ta không bắt gặp từ “ nhớ”, “ thương” nào nhưng vẫn cảm nhận được xúc cảm rưng rưng của tác giả. Đó chính là tính biểu cảm , gợi cảm mà ngôn ngữ thơ làm được.
4. Nghệ thuật: Bài thơ kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với kể chuyện, miêu tả và bình luận, hình ảnh thơ chân thực và giàu ý nghĩa biểu tượng, phép đảo ngữ và điệp từ sử dụng rất hiệu quả... Thành công của Bếp lưả còn ở sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, để làm điểm tựa khơi gợi mọi kỷ niệm cảm xúc.
C/ Kết bài: Tóm lai, đoạn thơ trên nói riêng và bài thơ Bếp lửa nói chung đã gợi lại những kỷ niệm đầy xúc động về bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương và đất nước. Qua sự rung cảm mà từ ngữ đem đến, tác giả nhắc nhở chúng ta bài học nhân sinh sâu sắc. Đó là bài học “ Uống nước nhớ nguồn” và triết lý : kỉ niệm dẫu nhọc nhằn, vất vả vẫn sẽ là hành trang nâng bước ta đi trên con đường dài rộng của cuộc đời.
Đề 2: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đàn bà dựng lại túp lều tranh
Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”
* Tìm hiểu đề:
- Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn thơ
- Vấn đề nghị luận: Những kỉ niệm tuổi thơ bên bà và bếp lửa
- Phạm vi dẫn chứng: Đoạn thơ trên đề bài
* Tìm ý
- Giới thiệu khái quát chung
- Kỉ niệm năm lên bốn tuổi
- Kỉ niệm suốt tám năm ròng
- Kỉ niệm năm giặc đốt làng
- Nghệ thuật đặc sắc
* Lập dàn ý:
I. Mở bài:
- Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta. Thơ ông trong trẻo, mượt mà và tràn đầy cảm xúc, thường khai thác những kỉ niệm thời thơ ấu và gợi những ước mơ của tuổi trẻ. “Bếp lửa” là bài thơ in đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật độc đáo ấy. Ra đời năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học tập ở nước ngoài, thi phẩm là dòng kỉ niệm xúc động về người bà và tình bà cháu, thể hiện lòng kính yêu trân trọng, biết ơn của người cháu đối với bà, cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.Điều đó được thể hiện rõ trong đoạn thơ sau: (Trích dẫn đoạn thơ ra)
II. Thân bài:
1.Khái quát ( Dẫn dắt vào bài):
Là một trong những sáng tác đầu tay của Bằng Việt, “Bếp lửa” được đánh giá là một bài thơ hay về tình bà cháu. Tình cảm ấy thể hiện qua dòng hồi tưởng của người cháu về những năm tháng tuổi thơ với biết bao kỉ niệm. Mỗi kỉ niệm lại được bao bọc trong một nỗi nhớ thương vừa dâng trào, vừa sâu lắng.
2. Phân tích, cảm nhận những kỉ niệm tuổi thơ bên bà
Mở đầu đoạn thơ là hình ảnh bếp lửa lung linh, chập chờn:
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
Ba tiếng “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần, trở thành điệp khúc da diết ngay từ những dòng thơ đầu tiên. “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt Nam trước đây. Bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh chờn vờn “sương sớm”,thật thân thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”.Từ láy“chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi thương đến dáng hình bập bùng của ngọn lửa, mờ ảo trong làn sương buổi sớm. “Ấp iu” gợi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm bếp. Hình ảnh bếp lửa hiện lên huyền ảo, hình ảnh người bà hiện ra tảo tần – bà đã chịu đựng bao“nắng mưa” để nuôi cháu thành người. Nhớ về bà, cảm xúc của cháu được gọi thành tên: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”.Vậy nên, trong tâm tưởng của người cháu nơi xa, sự xuất hiện của hình ảnh bếp lửa đã khơi gợi mạch nguồn cảm xúc để cháu nhớ về bà, nhớ về tình bà cháu.
Bếp lửa gợi dậy cả một ký ức của tuổi ấu thơ – như một thước phim quay chậm tất cả đã ùa về:
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.
Mùi khói cay nhèm của bếp rơm, bếp rạ đã đi vào kí ức của Bằng Việt từ những ngày còn thơ bé. Đó cũng là một tuổi thơ cay cực gắn liền với gian đoạn đau thương, khủng khiếp . Đau thương bởi bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945.Trong làn khói sương của kỉ niệm, nhà thơ nhớ lại những kí ức bi thương nhất. Đó là cái “đói mòn đói mỏi”,hình ảnh “khô rạc ngựa gầy” của hơn hai triệu người dân ở làng quê Việt Nam, là dáng hình của người cha trong lao động vất vả. Song, cũng chính trong khoảng thời gian ấy, bếp lửa vẫn cháy sáng,vẫn ấm nóng nồng đượm bởi tình bà. Cảm xúc hiện tại, kỉ niệm năm xưa hòa lẫn “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”.
Đó còn là kỉ niệm về người bà lụi cụi, chắt chiu, nhóm lên ngọn lửa ấm ấp để nuôi dưỡng, bao bọc, chở che cho đứa cháu:
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
…….Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Tám năm sống cùng bà là tám năm cháu nhận được sự yêu thương, che chở, dưỡng nuôi tâm hồn từ tấm lòng bà – “bà bảo cháu nghe, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”. Cảm ơn cái công ơn ấy, người cháu càng thương bà: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”. Bà và bếp lửa là chỗ dựa tình thần, là sự chăm chú, đùm bọc dành cho cháu. Bếp lửa của quê hương, bếp lửa của tình bà lại gợi thêm một kỉ niệm của tuổi thơ – kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú trên đồng quê mỗi độ hè về. Tiếng chim như giục giã, như k hắc khoải một điều gì da diết khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm, nhớ mong. Đưa âm thanh tiếng chim tuhú vào dòng hồi tưởng là một sáng tạo độc đáo của nhà thơ Bằng Việt– nó khiến cho không gian kỉ niệm như có chiều sâu, và nỗi nhớ thương bà của cháu càng trở nên thăm thẳm, vời vợi. Tiếng chim tu hú đã trở thành một mảnh tâm hồn tuổi thơ cháu. Có thể nói, ngời sáng từ những dòng thơ là hình ảnh người bà tần tảo,giàu tình yêu thương. Bà là cha, là mẹ của đứa cháu trong những năm tháng gian khổ.
Đọng lại trong kỉ niệm của người cháu là:
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
……Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Đoạn thơ có sự kết hợp giữa tự sự và miêu tả, đã tái hiện một cách chân thực cuộc sống đầy những mất mát, đau thương của dân tộc ta những năm chống Pháp. Và cũng thấm thía tình làng nghĩa xóm đoàn kết, bao bọc lúc hoạn nạn, khó khăn. “Mẹ cùng cha công tác bận không về”, cháu sống trong sự cưu mang, dạy bảo của bà, sớm có ý thức tự lập, sớm phải lo toan. Điều khiến cháu xúc động nhất là một mình bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi để trải qua những năm tháng gian nan, đau khổ mà không hề kêu ca, phàn nàn. Bà mạnh mẽ, kiên cường trong hoàn cảnh chiến tranh đạn lửa.
Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh:
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên
Vậy là bà đã gồng mình gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm công tác. Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc. Bà thật là giàu lòng yêu thương.Chan chứa trong từng lời thơ, ta cảm nhận một lòng biết ơn, niềm tự hào của đứa cháu đã trưởng thành khi nghĩ về người bà thân yêu.
3. Nghệ thuật đặc sắc:
Có thể nói rằng qua đoạn thơ trên và toàn bài thơ, bằng việc sáng tạo nhiều hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng, đặc biệt là hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa; thể thơ tám chữ phù hợp với cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm; Bằng Việt đã để lại trong người đọc chúng ta tình bà cháu vô cùng cao đẹp. Tình cảm ấy là sự khởi đầu của tình yêu thương con người, tình yêu đất nước. Ngọn lửa của tình bà theo suốt những năm tháng cuộc đời nhà thơ, nuôi dưỡng, ấp ủ, chở che, mang đến cho cháu nghị lực.Ngọn lửa ấy sưởi ấm tấm lòng nhà thơ cũng như mỗi người đọc chúng ta.
III. Kết bài:
Tóm lại, tình bà cháu là tình cảm cao đẹp được Bằng Việt thể hiện rất sâu sắc trong đoạn thơ trên và bài thơ “Bếp lửa”.Bếp lửa – tình bà, tấm lòng yêu thương của bà trong mỗi chúng ta là những gì thiêng liêng nhất.
Nó nhắc nhở ta biết sống, biết yêu thương, xứng đáng với tầm lòng bà.
III. Những lỗi học sinh thường mắc
- Về hình thức trình bày: không khoa học, viết ẩu, không đảm bảo hình thức đoạn văn và bài văn.
- Về nội dung:
+ Bài tập về biện pháp tu từ không tuân theo kĩ năng làm bài.
+ Khi viết đoạn văn, bài văn còn thiếu ý luận điểm, các câu, đoạn văn chưa liên kết chặt chẽ.
IV. Bài tập vận dụng
- Viết hoàn chỉnh các đoạn văn, bài văn nghị luận ở dạng 2 và dạng 3.
- Phát hiện lỗi sai và sửa chữa trong bài viết hoàn chỉnh.
Ở dạng 2 và dạng 3: Khi đã định hình được dàn ý xong và tiến hành viết bài, cần lưu ý:
1. Đối với đoạn văn nghị luận xã hội:
+ Về hình thức: Viết hoa chữ cái đầu tiên của đoạn, lùi vào đầu dòng. Tùy theo yêu cầu dung lượng mỗi đề, đảm bảo không thừa không thiếu.
+ Về nội dung:
/ Phần mở đoạn và kết đoạn, các em viết thật ngắn gọn
/ Phần thân đoạn: Các câu trong đoạn phải hướng vào chủ đề, và các câu được sắp xếp theo một trình tự lo gic, hợp lí.
2. Đối bài văn nghị luận văn học
Khi đã định hình được dàn ý xong và tiến hành viết bài, cần lưu ý:
- Mở bài: Đảm bảo ngắn gọn, đủ ý ( Học sinh giỏi cần dảm bảo độc đáo, hấp dẫn)
- Thân bài: Trình bày mỗi luận điểm ít nhất là một đoạn văn, nên có câu chứa luận điểm, giữa các luận điểm cần liên kết chặt chẽ với nhau.
- Kết bài: Đảm bảo ngắn gọn, ấn tượng và tương xứng với mở bài về dung lượng
Lời kết
Thơ hiện đại Việt Nam là một trong những mảng kiến thức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong các đơn vị ra đề thi vào THPT. Mong muốn các em nắm vững kiến thức vận dụng các kĩ năng phù hợp với từng dạng bài để hoàn thiện từng câu hỏi. Hơn nữa tìm hiểu những bài thơ hiện đại ta càng thấy yêu quê hương đất nước, yêu gia đình càng trân trọng hơn những nét đẹp cao quý của con người.
THPT. Mong muốn các em nắm vững kiến thức vận dụng các kĩ năng phù hợp với từng dạng bài để hoàn thiện từng câu hỏi. Hơn nữa tìm hiểu những bài thơ hiện đại ta càng thấy yêu quê hương đất nước, yêu gia đình càng trân trọng hơn những nét đẹp cao quý của con người.
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn